Khảo sát đặc trưng chất lượng phát hiện của hệ thống radar nhiều vị trí với cấu trúc phụ thuộc sử dụng lý thuyết Copula

Phạm Văn Hùng, Nguyễn Đức Minh  
KHẢO SÁT ĐẶC TRƯNG CHẤT LƯỢNG  
PHÁT HIỆN CỦA HỆ THỐNG RADAR  
NHIỀU VỊ TRÍ VỚI CẤU TRÚC PHỤ THUỘC  
SỬ DỤNG LÝ THUYẾT COPULA  
Phạm Văn Hùng*, Nguyễn Đức Minh+  
* Học viện Kỹ thuật Quâ n sự  
+ Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thô ng  
Tóm tắt—Bài báo đề xuất một phương pháp đánh giá phát và nhiều máy thu đặt ở các vị trí phân tán trong không  
chất lượng phát hiện của hệ thống mạng Radar nhiều vị trí gian được nhiều nhà khoa học quan tâm [6, 7, 9, 18, 19, 21,  
xử lý phân tán (NVTXLPT) khi các quyết định từ những 22]. Nghiên cứu trong [6] tập trung vào việc tổng hợp các  
đài radar thành phần không độc lập thống kê do hệ thống bộ phát hiện tối ưu và tựa tối ưu trong điều kiện tạp Gauss  
chịu ảnh hưởng của các loại nhiễu không Gauss bằng cách cộng tính và thăng giáng Rayleigh trong tín hiệu phản xạ,  
sử dụng công cụ toán học thống kê Copula. Bài toán phát tuy nhiên việc xây dựng bài toán luôn đi kèm giả thiết về  
hiện trong mạng radar NVTXLPT được giải quyết với công tính độc lập thống kê cho thuộc tính của cả tạp và mục tiêu.  
cụ toán học thống kê Copula bằng cách sử dụng một lớp Về mặt cấu trúc, phát hiện tựa tối ưu được xem xét giống  
các Copula Eliptics, đặc biệt là Copula Gauss. Mô hình với hệ thống RNVT-XLPT [7, 21] .  
mục tiêu thăng giáng Swerling được khảo sát cho thấy sự  
Lý thuyết phát hiện RNVT-XLPT lần đầu tiên được đưa  
phù hợp của phương pháp này. Nội dung bài báo cũng đề ra bởi [18]. Ngưỡng phát hiện tối ưu theo tiêu chuẩn  
cập đến việc khảo sát và đánh giá các quy luật hợp nhất dữ Neyman-Pearson và chất lượng phát hiện của hệ thống đã  
liệu (AND, OR và Majority) tại trung tâm hợp nhất cũng được đánh giá với mục tiêu pha đinh Rayleigh cho trường  
như chất lượng phát hiện của hệ thống mạng radar hợp mạng bao gồm 2 và 3 đài radar thành phần có các quyết  
NVTXLPT trong một số trường hợp cụ thể. Kết quả cho định độc lập thống kê. Các quy luật hợp nhất ở trung tâm  
thấy chất lượng phát hiện của hệ thống bị ảnh hưởng nhiều được sử dụng là AND, OR và Majority Logic. Sau đó, lý  
bởi mối tương quan giữa các quyết định từ các đài radar thuyết phát hiện này tiếp tục được phát triển cho các quy  
thành phần. Chất lượng phát hiện của hệ thống giảm đi khi luật hợp nhất khác nhau với các mô hình mục tiêu Swerling  
hệ số tương quan giữa các đài radar dương và tăng lên khi [22] và quy luật đếm [20].  
hệ số tương quan giữa các đài radar âm.  
Nhìn chung, trong các nghiên cứu đã công bố [6, 7, 9,  
18, 19, 21, 22], việc xây dựng bài toán đều dựa trên các giả  
thiết về sự độc lập thống kê của tạp và tín hiệu thu phân  
tán. Tuy nhiên, khi tạp trong các đài radar thành phần  
không độc lập thống kê thì mức độ phức tạp trong tính toán  
được nâng lên và bước đầu đã được xem xét trong một số  
nghiên cứu [1, 3, 9]. Aalo [1], với giả thiết sự tương quan  
đều trong tạp Gauss và Laplace, đã đưa ra được công thức  
xác định ngưỡng và xác suất phát hiện phụ thuộc vào hệ số  
tương quan giữa các quyết định thành phần. Trong khi đó,  
các tác giả trong [3, 9] quan tâm đến bài toán phát hiện  
trong mạng cảm biến khi các quyết định có sự tương quan  
lẫn nhau.  
Tác giả Minh [13, 14] đã nghiên cứu bài toán phát hiện  
trong hệ thống RNVT-XLPT, với sự tương quan đều trong  
các quyết định thành phần. Bài toán đã được giải quyết chỉ  
với một số trường hợp của nhiễu có phân bố Eliptic do sự  
hạn chế trong việc xây dựng mô hình toán học các phân bố  
nhiều chiều và gánh nặng tính toán. Một số kết quả quan  
trọng trong đánh giá chất lượng phát hiện đã được đưa ra  
Từ khóa— Copula, mô hình phụ thuộc, nhiễu không  
Gauss, radar nhiều vị trí, phát hiện phân tán.  
I. GIỚI THIỆU CHUNG  
Hệ thống radar nhiều vị trí xử lý phân tán (RNVT-  
XLPT) và hệ thống radar nhiều vị trí xử lý tập trung  
(RNVT-XLTT) là hai lớp trong phân loại hệ thống radar  
nhiều vị trí (RNVT). Hệ thống RNVT-XLTT luôn cho một  
kết quả phát hiện tối ưu nhất do không có sự mất mát thông  
tin. Tuy nhiên, hệ thống RNVT-XLTT có cấu trúc phức tạp  
tại trung tâm hợp nhất và yêu cầu về băng thông lớn khi  
khối lượng tính toán khổng lồ và tăng lên nhanh chóng theo  
số lượng các đài radar thành phần trong mạng. Để khắc  
phục vấn đề này, hệ thống RDNVT-XLPT với các quyết  
định thành phần phân tán và một trung tâm hợp nhất dữ  
liệu cho thấy hiệu quả cả về tính đơn giản trong cấu trúc,  
băng thông hẹp mà chất lượng phát hiện suy giảm không  
đáng kể [6]. Do đó, hệ thống RNVT-XLPT với một máy  
Tác giả liên lạc: Nguyễn Đức Minh,  
Email: [email protected]u.vn  
Đến toàn soạn: 9/2020, chỉnh sửa: 10/2020, chấp nhận đăng: 10/2020  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
124  
KHẢO SÁT ĐẶC TRƯNG CHẤT LƯỢNG PHÁT HIỆN CỦA HỆ THỐNG RADAR NHIỀU VỊ TRÍ ……..  
và cho thấy ưu điểm của hệ thống RNVT-XLPT trong một  
Ô phân giải radar  
số trường hợp và quy luật hợp nhất.  
Lý thuyết Copula, cho phép xây dựng một phân bố nhiều  
biến từ mô hình phụ thuộc và các phân bố biên, đang rất  
được quan tâm trong rất nhiều lĩnh vực [4, 10, 15]. Tác giả  
[5] đã ứng dụng Copula trong việc mô hình hóa sự phụ  
thuộc của các quyết định thống kê trong hệ thống radar.  
Thử nghiệm với những tính toán số học cụ thể cũng được  
Trạm phát/  
thu 1  
...  
Trạm thu 2  
Trạm thu 3  
Trạm thu d  
đưa ra với hệ thống gồm 1 trạm phát và 2 trạm thu ứng  
dụng các họ Copula 2 biến khác nhau. Kết quả cho thấy  
chất lượng phát hiện của phương pháp này khi quan tâm  
đến yếu tố không độc lập thống kê vượt trội hơn so với mô  
hình độc lập thống kê.  
Trung tâm  
hợp nhất  
Các tác giả trên hoặc là đã giả thiết các quyết định thành  
phần độc lập [1, 20] để dễ tính toán, giới hạn số lượng đài  
thành phần để có thể mô hình hóa sự phụ thuộc [5], hoặc  
giới hạn tính toán cho một số trường hợp phân bố nhiễu cụ  
thể [13, 14]. Đặc biệt, yếu tố phụ thuộc liên quan đến  
trường hợp nhiễu không Gauss vẫn chưa được nghiên cứu.  
Do đó, để mô hình hóa sự phụ thuộc của các quyết định  
thành phần trong nhiễu không Gauss, nội dung bài báo này  
đề xuất phương pháp mô hình hóa sự phụ thuộc dựa vào  
công cụ toán học Copula, từ đó khảo sát chất lượng phát  
hiện của mạng RNVT-XLPT trong một số trường hợp cụ  
thể. Phần còn lại của bài báo được tổ chức như sau: Phần 2  
trình bày một số cơ sở về lý thuyết phát hiện trong mạng  
radar phân tán, phát hiện mục tiêu trong nhiễu phân bố K  
và lý thuyết Copula. Phần 3 là bài toán phát hiện mục tiêu  
trong hệ thống RNVT-XLPT, bao gồm phương pháp mô  
hình hóa sự phụ thuộc dựa vào Copula cùng với các quy  
luật hợp nhất dữ liệu. Các kết quả về đánh giá chất lượng  
phát hiện của hệ thống theo các tiêu chí cụ thể và thảo luận  
được đưa ra trong phần 4. Phần 5 là một số nhận xét và kết  
luận.  
Hình 1. Cấu trúc hệ thống RNVT-XLPT  
Tín hiệu đầu vào máy thu được ký hiệu là  
Zi  
(i =1, ,
, với  
w , gi¶ thuyÕt H0  
i
Z =  
(1)  
i
w + si , gi¶ thuyÕt H1  
i
w
với  
là thành phần nhiễu ở đầu vào mỗi máy thu và được  
i
giả thiết là phụ thuộc lẫn nhau; si là thành phần tín hiệu  
phản xạ ở đầu vào máy thu thứ i.  
Kiểm định tỉ số hợp lý tại mỗi trạm được thực hiện và  
đưa ra các quyết định nhị phân:  
0, kh«ngcãmôctiªu  
a =  
(2)  
i
1,  
cãmôctiªu  
Sau đó, trung tâm tiến hành hợp nhất dữ liệu các dữ liệu  
ai từ các trạm thành phần bằng việc kiểm định một tỉ số  
hợp lý khác và đưa ra quyết định cuối cùng:  
P(a | H1) P(a1,a2 ,...,ad | H1)  
(a) =  
=
P(a | H0 ) P(a1,a2 ,...,ad | H0 )  
II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
(3)  
H
... fZ ...Z (Z1,...,Zd | H1)dZ1...dZd  
1   
a a  
1
d
1
d
=
A. Bài toán phát hiện trong mạng radar phân tán  
... fZ ...Z (Z1,...,Zd | H0 )dZ1...dZd  
H
a a  
0
1
d
1
d
Xem xét một hệ thống RNVT-XLPT trên Hình 1. Hệ  
thống bao gồm một trạm phát và nhiều trạm thu được bố  
trí phân tán, cùng với đó là một trung tâm hợp nhất dữ liệu.  
Các đài radar thành phần thu nhận dữ liệu từ trạm phát và  
đưa ra quyết định của riêng mình về việc có hoặc không có  
mục tiêu. Các quyết định này được truyền về trung tâm hợp  
nhất, tại đây với một quy luật hợp nhất cụ thể trung tâm sẽ  
đưa ra quyết định cuối cùng về việc có hoặc không có mục  
tiêu.  
Bài toán kiểm định giả thuyết thống kê radar gồm: giả  
thuyết H1 (giả thuyết về có mục tiêu) và H0 (giả thuyết về  
không có mục tiêu). Giả thuyết H0 có thể là trường hợp chỉ  
có tạp, nhiễu hoặc cả tạp + nhiễu.  
P(a| Hi )  
i ={0,1}  
Ở đây,  
với  
là xác suất nhận vector  
Hi fZ (Z | H0,1)  
a
quyết định trong điều kiện giả thuyết  
là hàm mật độ xác suất liên kết của các tín hiệu đầu vào  
Zi  
,
máy thu  
với giả thuyết tương ứng, λ là mức ngưỡng ở  
trung tâm phụ thuộc vào xác xuất báo động lầm yêu cầu  
của hệ thống. Rõ ràng, nếu coi tất cả các quyết định thành  
phần là độc lập thống kê và thiết lập một mức ngưỡng  
chung cho tất cả các đài thì (3) là đối xứng với tất cả các  
quyết định. Khi đó, bài toán trở về giống với trường hợp  
trong [1, 20], nghĩa là hàm mật độ và hàm phân bố xác suất  
liên kết đơn giản là tích của các hàm mật độ và hàm phân  
bố xác suất thành phần.  
Bài báo này sẽ xem xét giả thiết các quyết định thành  
phần là phụ thuộc thống kê (trường hợp tổng quát) để khảo  
sát chất lượng phát hiện của hệ thống RNVT-XLPT trong  
nhiễu không Gauss, cụ thể là nhiễu phân bố K.  
B. Phát hiện mục tiêu trong nhiễu phân bố K  
Khi độ phân giải của radar tăng lên và với điều kiện môi  
trường nhất định thì thuộc tính thống kê của nhiễu không  
còn mang tính Gauss [2, 11, 24]. Một số mô hình thống kê  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
125  
Phạm Văn Hùng, Nguyễn Đức Minh  
nhiễu không Gauss đã được đưa ra trong các nghiên cứu của một phân bố đa biến có thể được phân tích tách biệt  
[24]. Ở đây, chúng tôi quan tâm đến mô hình thống kê  
nhiễu là phân bố K phức hợp, thăng giáng trong tín hiệu  
phản xạ tuân theo mô hình mục tiêu Swerling [23].  
Xác suất phát hiện mục tiêu thăng giáng trên nền  
nhiễu được xác định bởi [16, 17].  
khỏi các phân bố biên của nó. Do vậy, để nghiên cứu cấu  
trúc phụ thuộc của một phân bố đa biến người ta tập trung  
vào Copula của nó.  
Cũng theo lý thuyết này, hàm mật độ xác suất (PDF) của  
hàm phân bố tích lũy (CDF) của F trong (9) có thể được  
tìm thấy từ PDF của C và F , . PDF c của Copula C  
P (Nt , Xt ,Y, K) =  
D
1
(4)  
0  
Y  
p(t | Xt , K) p(s | Nt ,t)ddt  
trong (9) là:  
dC(u1,
u1
Trong đó,  
N
t - số lượng xung tích lũy không tương can,  
c(u1, =  
(10)  
- tham số thăng giáng mục tiêu, - ngưỡng phát hiện  
K
Y
Khi hàm mật độ Copula c biết trước được thì hàm mật  
chuẩn hóa qua công suất tạp,  
s
và Xt được cho bởi,  
độ f của phân bố đa biến F trong (9) được cho bởi:  
Nt  
Nt  
yn  
En  
d
s =  
and X =  
(5)  
p  
p  
t
f (x1, = )
(x ) (11)  
i  
n=1  
n=1  
c
c
i=1  
N
En  
tương ứng là tổng của t đầu ra máy thu và kỳ vọng  
với fi là hàm mật độ của phân bố i . Công thức (11) được  
F
của chúng được trung bình qua công suất nhiễu c . Hàm  
p
gọi là sự biểu diễn chính tắc của một PDF đa biến.  
Chi tiết về lý thuyết Sklar và một số họ Copula phổ biến  
cùng với các ứng dụng của nó có thể được tìm thấy trong  
[4, 10, 15]. Các trình bày dưới đây tập trung vào họ Copula  
Gauss, một họ Copula eliptic phổ biến, bởi chúng có thể  
được áp dụng một cách trực tiếp để mô hình hóa sự phụ  
thuộc đa biến từ các phân bố biên.  
s
mật độ xác suất của được cho bởi phân bố Rice [12],  
(N −1)/2  
t
s
p(s | N , X ) =  
e−(s+X )IN −1(2 sXt ),  
t
t
t
t
(6)  
Xt  
(s 0).  
Nhiễu phân bố K là sự kết hợp của nhiễu phân bố Gauss  
với công suất trung bình bị điều chế bởi quy luật Gamma  
[24]. Do đó, để có được xác suất phát hiện cuối cùng, ta  
cần tích phân (4) qua hàm mật độ Gamma:  
III. MÔ HÌNH BÀI TOÁN PHÁT HIỆN MỤC TIÊU  
TRONG HỆ THỐNG RNVT-XLPT VỚI CẤU TRÚC  
PHỤ THUỘC COPULA  
P (Y, Nt , Xt , K,v, pc )  
D
v  
A. Mô hình phụ thuộc Copula Gauss  
Hàm Copula Gauss được cho bởi [15],  
vx  
v
xv−1  
P (N , X ,Y,K | p )  
e− dx  
(7)  
pc  
= 0  
D
t
t
c
pc (v)  
CPG (u1,...,ud ) = P (−1(u1),...,−1(ud ))  
(12)  
v
ở đây, là tham số hình dạng của phân bố Gamma, thay  
đổi khi góc chiếu xạ mục tiêu thay đổi [11, 24]. Khi chỉ có  
nhiễu, (7) có phân bố K dạng tường minh. Nói chung, (4)  
được tính qua phép xấp xỉ trong [16, 25], sau đó sử dụng  
phép tích phân số bằng phương pháp Gauss-Laguerre trong  
[8] để có được (7). Từ đó, hàm phân bố tích lũy được xác  
định theo (8).  
Ở đây,  
P là hàm phân bố Gauss đa biến với ma trận tương  
quan P xác định dương;  
bố và phân bố nghịch đảo Gauss đơn biến.  
và −1 tương ứng là hàm phân  
Từ (9) và Copula Gauss (12), có thể thấy rằng: với  
d
(x1,..., xd )  
là các biến ngẫu nhiên có hàm phân bố  
biên F , , ta có thể xác định hàm phân bố liên kết đa  
1
F (Y) =1− P (Y, Nt , Xt ,K,v, pc )  
(8)  
D
biến với cấu trúc phụ thuộc theo Copula Gauss như sau:  
FPG (x , , =  
C. Lý thuyết Copula  
1
(13)  
P (−1(F (x )), −1(xd )))  
Định lý Sklar [15] là kết quả quan trọng nhất khi nghiên  
cứu về Copula. Phát biểu chính của định lý này được cho  
trong [10, 15], như sau:  
1
1
d
Các hàm và −1 là các hàm đơn điệu tăng nên sự tương  
F
i
x , d  
quan của các biến  
và sự tương quan của  
Cho F là một hàm phân bố d-chiều cùng với các phân  
1
F ,
bố biên  
. Với mọi x trong trong tập xác định của  
F (x ), )  
có xu hướng giống nhau. Do đó, với  
1
1
1
F, tồn tại một Copula C có d-chiều sao cho  
F(x , d =
cách mô hình hóa này thì ma trận tương quan P trong cấu  
trúc Copula sẽ phản ánh cấu trúc phụ thuộc giữa các biến  
(9)  
1
1
x ,
. Ma trận P có dạng sau:  
1
F ,
Nếu các hàm  
liên tục thì C là duy nhất. Với các  
1
1
12  
1
trường hợp còn lại, C được xác định là duy nhất trên  
RanF
d . Ở đây, RanH là hạng của H. Ngược  
21  
1
P =  
(14)  
F , ,F  
lại, nếu C là một Copula d-chiều và  
là các hàm  
1
d1 d 2  
phân bố thì hàm F được định nghĩa bởi (9) là một hàm  
F ,
phân bố d-chiều với các phân bố biên  
.
1
ở đây, các hệ số tương quan  
phải thỏa mãn  
ij (i, j =1,d)  
Định lý Sklar bảo đảm rằng một phân bố đa biến liên tục  
có thể được tách thành hai thành phần: các phân bố biên  
đơn biến và sự phụ thuộc đa biến, với cấu trúc phụ thuộc  
được biểu diễn bởi một Copula. Vì thế, cấu trúc phụ thuộc  
điều kiện xác định dương của ma trận tương quan P.  
Một lưu ý quan trọng là hàm Copula Gauss được xác  
định hoàn toàn bởi ma trận tương quan P. Tham số này  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
126  
KHẢO SÁT ĐẶC TRƯNG CHẤT LƯỢNG PHÁT HIỆN CỦA HỆ THỐNG RADAR NHIỀU VỊ TRÍ ……..  
được yêu cầu như là đầu vào cho trước của mô hình liên tương ứng là:  
quan đến sự phụ thuộc của các phân bố biên.  
P = P(a1 =1,a2 =1,a3 =1| H0 )  
FA  
    
B. Một số giả thiết  
(17)  
(18)  
fZ (Z | H0 )dZ  
=   
Trong phần này, sẽ xem xét bài toán phát hiện trong hệ  
thống RNVT-XLPT khi các quyết định thành phần phụ  
thuộc thống kê theo Copula Gauss được đề xuất ở 3.1,  
trong điều kiện nhiễu phân bố K. Trước khi tổng hợp các  
quy luật hợp nhất, một số giả thiết được đưa ra như sau:  
i). Kiểm định tỉ số hợp lý theo tiêu chuẩn Neyman-  
Pearson ở trung tâm hợp nhất;  
t0 t0 t0  
= FPG (t0 ,t0 ,t0 | H0 )  
P = FPG (t0 ,t0 ,t0 | H1)  
D
FPG (.)  
ở đây, t0 trong hàm  
là kí hiệu cho biết cận lấy tích  
phân xác suất trong (1.16) là [t0 ,+)  
.
Quy luật MAJORITY  
ii). Mức ngưỡng được xác định chung cho tất cả các đài  
thành phần;  
Quy luật này phát biểu rằng trung tâm hợp nhất dữ liệu  
iii). Các quyết định thành phần phụ thuộc theo Copula ra quyết định có mục tiêu khi có từ đa số các quyết định  
Gauss với ma trận tương quan P, thỏa mãn điều kiện ma thành phần là có mục tiêu. Với trường hợp 3 đài đang xét,  
trận xác định dương.  
thì quyết định có mục tiêu khi có từ 2 quyết định thành  
Giả thiết đầu tiên cho thấy, để đánh giá chất lượng phát phần trở lên là có mục tiêu. Xác suất báo động lầm tổng thể  
hiện phân tán thì ta cần cho trước một xác suất báo động được tổng hợp theo:  
t
   
0
    
lầm tổng thể ở trung tâm FA . Dựa vào giả thiết thứ hai,  
P
=  f (Z | H )dZ+   
P
fZ (Z | H0 )dZ  
fZ (Z | H0 )dZ  
FA  
Z
0
chúng ta có thể tính toán được mức ngưỡng tối ưu duy nhất  
t0 ứng với từng quy luật hợp nhất, và nó được sử dụng  
t0 t0 t0  
t0 t0  
t0  
0
t
   
0
(19)  
chung cho tất cả các đài thành phần. Mặc dù, về mặt thực  
tế, mức ngưỡng các đài thành phần có thể khác nhau,  
nhưng để đơn giản bài toán xác định ngưỡng tối ưu chúng  
tôi đã giả thiết là mức ngưỡng đồng nhất cho các đài. Mức  
ngưỡng tối ưu riêng cho từng đài sẽ được tiếp tục phát triển  
trong các nghiên cứu sau. Giả thiết cuối cùng là điều kiện  
để cho phép mô hình hóa sự phụ thuộc thông qua Gauss  
+ f (Z | H )dZ+   
Z
0
t0 0 t0  
0 t0 t0  
= FPG (t0 ,t0 ,t0 | H0 ) + FPG (t0 ,t0 ,t0 | H0 )  
+FPG (t0 ,t0 ,t0 | H0 ) + FPG (t0 ,t0 ,t0 | H0 )  
Xác xuất phát hiện cũng được tổng hợp theo cách tương tự  
H0 H1  
khi thay giả thuyết  
bằng giả thuyết  
trong (18).  
Copula. Sau đó, xác suất phát hiện  
P
được tính cho từng  
D
P
= FPG (t0,t0,t0 | H1)+ FPG (t0,t0,t0 | H1)  
+FPG (t0,t0,t0 | H1)+ FPG (t0,t0,t0 | H1)  
D
(20)  
quy luật hợp nhất.  
Bản chất của phân bố đa biến trong (13) chính là phép  
tính tích phân xác suất của hàm mật độ xác suất liên kết đa  
biến phân bố Gauss. Bài toán trở nên khó khăn nếu số đài  
tăng lên, ngay cả khi số đài chỉ từ 3. Ngoài các quy luật  
hợp nhất được chỉ ra dưới đây, các quy luật hợp nhất còn  
lại là sự tổng hợp của các hoán vị của các cận lấy tích phân  
trong hàm phân bố nhiều chiều (13). Do vậy, ở đây đưa ra  
3 quy luật hợp nhất AND, OR và MAJORITY như là một  
ví dụ cho việc hợp nhất dữ liệu từ 3 đài thành phần khi các  
quyết định phụ thuộc theo Copula Gauss.  
Các công thức (18) và (19) có thể được rút gọn thành  
(20) và (21) nếu các tham số phân bố biên là giống nhau và  
ma trận tương quan P đồng nhất.  
P = FPG (t0 ,t0 ,t0 | H0 ) +3FPG (t0 ,t0 ,t0 | H0 )  
(21)  
FA  
P = FPG (t0 ,t0 ,t0 | H1) +3FPG (t0 ,t0 ,t0 | H1)  
(22)  
D
IV. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG PHÁT HIỆN  
Trong phần này, chúng tôi đưa ra một vài ví dụ để đánh  
giá chất lượng phát hiện của hệ thống RNVT-XLPT với  
mô hình sự phụ thuộc của các quyết định thành phần được  
đề xuất ở trên.  
C. Các quy luật hợp nhất dữ liệu  
Quy luật OR  
Trước hết, xem xét sự phụ thuộc chất lượng phát hiện  
của hệ thống vào sự phụ thuộc (tương quan) giữa các quyết  
định thành phần. Để thực hiện điều này, giả thiết các tham  
số thống kê của nhiễu tại 3 đài là như nhau: Tỷ số nhiễu/tạp  
(CNR) là 10 dB, tham số hình dạng của nhiễu phân bố K  
=1. Hệ số tương quan đều giữa các quyết định cũng  
Với quy luật này, trung tâm hợp nhất sẽ đưa ra quyết  
định có mục tiêu khi có ít nhất một quyết định thành phần  
t0  
là có mục tiêu. Ngưỡng có thể tính được khi cho trước  
P
xác suất báo động lầm tổng thể là  
theo (14),  
FA  
P =1− P(a1 = 0,a2 = 0,a3 = 0 | H0 )  
FA  
được giả thiết với hệ số tương quan  
. Ngoài ra, để đảm  
t0 t0 t0  
(15)  
(16)  
fZ (Z | H0 )dZ  
=1−   
bảo điều kiện xác định dương của ma trận P, các khảo sát  
0 0 0  
chất lượng phát hiện của hệ thống được tiến hành với  
=1− FPG (t0 ,t0 ,t0 | H0 )  
(−0.5,1]  
nằm trong khoảng  
. Khác với các ứng dụng trong  
Xác suất phát hiện tương ứng là:  
thông tin, ở đây xác suất báo động lầm tổng thể tại trung  
tâm được khảo sát với giá trị rất nhỏ, cỡ 10-6 và 10-8 (thậm  
chí có thể nhỏ hơn). Điều này là phù hợp với trường hợp  
bài toán phát hiện trong radar, mạng radar.  
P =1− FPG (t0 ,t0 ,t0 | H1)  
D
Quy luật AND  
Quyết định có mục tiêu được đưa ra với quy luật này chỉ  
khi tất cả các quyết định thành phần đều quyết định có mục  
tiêu. Các công thức xác suất báo động lầm và phát hiện  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
127  
Phạm Văn Hùng, Nguyễn Đức Minh  
Hình 2. Xác suất phát hiện PD theo  
(PFA = 10-6)  
Hình 4. Xác suất phát hiện PD theo SIR (PFA = 10-6)  
Một điều khá đặc biệt, xu hướng thay đổi chất lượng  
giữa 3 quy luật là khác nhau ứng với SIR khác nhau. Ở  
vùng có SIR nhỏ, quy luật AND cho một chất lượng phát  
hiện vượt trội hơn cả, trong khi chất lượng phát hiện tốt  
hơn cả là quy luật OR ở vùng có SIR lớn. Điều này cũng  
gợi ý cho việc sử dụng hợp lý các quy luật hợp nhất ứng  
với các trường hợp khác nhau của SIR để có chất lượng  
phát hiện tốt nhất.  
Hình 3. Xác suất phát hiện PD theo  
(PFA = 10-8)  
Hình 2 và Hình 3 là các đồ thị xác suất phát hiện theo hệ  
số tương quan đều ứng với 3 quy luật hợp nhất OR,  
MAJORITY và AND. Trong đó, tỉ số tín/nhiễu +tạp (SIR)  
10 dB và 15 dB được khảo sát. Dễ dàng thấy rằng, sự tương  
quan âm trong số các quyết định thành phần cải thiện một  
cách đáng kể chất lượng phát hiện của hệ thống. Ngoài ra,  
quy luật hợp nhất OR cho thấy sự kém nhạy hơn với hệ số  
tương quan và nó cũng có chất lượng kém hơn so với các  
quy luật AND và MAJORITY.  
Hình 5. Xác suất phát hiện PD của các quy luật hợp  
nhất khi  
thay đổi (PFA = 10-8).  
Cuối cùng, ta xem xét chất lượng phát hiện của hệ thống  
với các mô hình mục tiêu Swerling khác nhau như là minh  
chứng cho tính hữu dụng của phương pháp mô hình hóa sự  
phụ thuộc đã đề xuất. Để có sự khác biệt giữa các mô hình  
mục tiêu Swerling 1-2 và mô hình 3-4, số xung tích lũy  
không tương can của các đài thành phần được giả thiết cùng  
là 10 xung. Các giả thiết khác là không thay đổi.  
Tiếp theo, Hình 4 và Hình 5 là một so sánh cụ thể hơn  
chất lượng phát hiện của các quy luật hợp nhất phụ thuộc  
vào SIR và cả hệ số tương quan  
. Rõ ràng, chất lượng  
phát hiện của cả 3 quy luật đều phụ thuộc khá mạnh (trừ  
quy luật OR) vào hệ số tương quan.  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
128  
KHẢO SÁT ĐẶC TRƯNG CHẤT LƯỢNG PHÁT HIỆN CỦA HỆ THỐNG RADAR NHIỀU VỊ TRÍ ……..  
Hình 8. Xác suất phát hiện PD của quy luật hợp nhất  
AND và OR theo các mô hình Swerling (PFA = 10-6,  
= +0.5 ).  
Hình 6-8 còn chứng minh thêm việc chất lượng phát hiện  
của hệ thống ứng với quy luật hợp nhất OR ít chịu ảnh  
hưởng hơn bởi sự phụ thuộc trong các quyết định thành  
phần. Sự thay đổi hệ số tương quan hầu như chỉ làm thay  
đổi ranh giới phân chia xu hướng phát hiện các mục tiêu  
Swerling với quy luật hợp nhất OR. Trong khi đó, chất  
lượng phát hiện các mục tiêu Swerling của quy luật AND  
bị thay đổi lớn khi thay đổi hệ số tương quan  
.
V. KẾT LUẬN  
Trong bài báo này, một phương pháp mô hình hóa sự  
phụ thuộc của các quyết định thành phần trong hệ thống  
radar nhiều vị trí xử lý phân tán dựa vào một họ Copula  
Eliptics đã được trình bày. Copula Gauss được lựa chọn  
bởi khả năng áp dụng trực tiếp của chúng. Phương pháp mô  
hình hóa này cho phép phân tích tách biệt yếu tố phụ thuộc  
với các phân bố biên của các quyết định thành phần. Do  
đó, bài toán phát hiện có thể được giải quyết với các phân  
bố nhiễu khác nhau trong radar. Ma trận tương quan P là  
tham số duy nhất để đánh giá sự phụ thuộc thống kê. Sau  
đó, mô hình bài toán phát hiện trong hệ thống của 3 đài  
thành phần đã được đưa ra tương ứng với các quy luật hợp  
nhất khác nhau. Cuối cùng, bài báo tiến hành đánh giá chất  
lượng phát hiện của hệ thống trong một số trường hợp cụ  
thể. Các kết quả chỉ ra rằng, chất lượng phát hiện tổng thể  
của hệ thống phụ thuộc nhiều vào mức độ tương quan trong  
các quyết định thành phần. Mặc dù quy luật hợp nhất OR  
ít chịu ảnh hưởng nhất bởi hệ số tương quan, song nó lại có  
chất lượng kém hơn so với các quy luật hợp nhất còn lại.  
Ngoài ra, chất lượng phát hiện của hệ thống với các mô  
hình mục tiêu Swerling cũng đã được khảo sát. Các kết quả  
ở đây cũng cho một gợi ý trong việc sử dụng các quy luật  
hợp nhất ở trung tâm để đạt được chất lượng phát hiện tốt  
nhất, ứng với các mô hình mục tiêu khác nhau và các mục  
tiêu có SIR khác nhau.  
Hình 6. Xác suất phát hiện PD (PFA = 10-6, = −0.4  
)
Hình 7. Xác suất phát hiện PD (PFA = 10-6, = 0  
)
Dựa vào đồ thị trên Hình 6-8, các đường cong xác suất  
phát hiện các mục tiêu Swerling vẫn có xu hướng ngược  
nhau ứng với vùng SIR nhỏ và lớn, giống với xu hướng  
trong chất lượng phát hiện đơn đài [16, 23]. Hơn nữa, ranh  
giới của các vùng SIR này ngoài phụ thuộc vào xác suất  
báo động lầm PFA thì nó còn phụ thuộc lớn vào hệ số tương  
quan trong các quyết định thành phần. Hình 7 là chất lượng  
phát hiện của hệ thống trong điều kiện các quyết định thành  
phần không tương quan = 0 . Đối với quy luật hợp nhất  
REFERENCES  
[1]. V. Aalo and R. Viswanathou: "On distributed detection  
with correlated sensors: two examples," IEEE Trans. on  
Aeros. and Elec. Systems 25 (1989) 414 (DOI:  
10.1109/7.30797).  
AND, chất lượng phát hiện trong trường hợp này bị suy  
giảm nhiều so với trường hợp tương quan âm nhưng lại tốt  
hơn so với trường hợp tương quan dương.  
[2]. I. Antipov: Analysis of Sea Clutter Data (DSTO Electronic  
and Surveillance Research Laboratory, ofAustralia, 1998)  
45.  
[3]. R. S. Blum and S. A. Kassam: "Optimum distributed  
detection of weak signals in dependent sensors," IEEE  
Trans. on Infor. Theory 38 (1992) 1066 (DOI:  
10.1109/18.135646).  
[4]. U. Cherubini, et al.: Copula Methods in Finance (Wiley,  
England, 2013) 308.  
[5]. S. Choi, et al.: "Copula based dependence modeling for  
inference in RADAR systems," (2015) 198 (DOI:  
10.1109/RadarConf.2015.7411879).  
[6]. E. Conte, et al.: "Multistatic radar detection: synthesis and  
comparison of optimum and suboptimum receivers," IEE  
Proc. F - Commun. Radar and Signal Proc. 130 (1983) 484  
(10.1049/ip-f-1:19830078).  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
129  
           
Phạm Văn Hùng, Nguyễn Đức Minh  
[7]. E. D'Addio, et al.: "Optimum and sub-optimum processors  
for multistatic radar systems," IEE Radar, Sonar, Nav. and  
Avi. 01 (1987) 117 (DOI: 10.1049/PBRA001E_ch).  
[8]. P. J. Davis, et al.: Methods of Numerical Integration  
(Elsevier Inc, Academic Press, 1984) 612.  
THE DETECTION PERFORMANCE OF THE  
MULTISTATIC RADAR SYSTEM WITH THE  
COPULA-BASED DEPENDENCE STRUCTURE  
[9]. E. Drakopoulos and C.-C. Lee: "Optimum multisensor  
fusion of correlated local decisions," IEEE Trans. on Aeros.  
and Elect. Systems 27 (1991) 2489 (DOI:  
10.1109/7.85032).  
[10]. F. Durante and C. Sempi: Copula Theory and Its  
Applications (Springer-Verlag, Berlin Heidelberg, 2009)  
327.  
[11]. T. P. Leonard, et al.: "A comparison of radar sea clutter  
models," IEE International Radar Conference (2002) 429  
(DOI: 10.1109/radar.2002.1174742).  
[12]. J. Marcum: "A statistical theory of target detection by  
pulsed radar," IRE Trans. on Infor. Theory 6 (1960) 59  
(DOI: 10.1109/tit.1960.1057560).  
[13]. N. Đ. Minh, et al.: "Ảnh hưởng của nhiễu tương quan với  
phân bố Student-t tới chất lượng phát hiện của mạng radar  
nhiều vị trí phân tán," Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân  
sự Số 56 (08/2018)  
[14]. N. Đ. Minh, et al.: "Giải bài toán phát hiện trong mạng radar  
nhiều vị trí xử lý phân tán khi chịu ảnh hưởng của nhiễu  
tương quan phân bố Lognormal," Tạp chí Nghiên cứu  
KH&CN quân sự 57 (10/2018)  
[15]. R. B. Nelsen: An Introduction to Copulas (Springer Science  
& Business Media, 2006) 269.  
[16]. D. A. Shnidman: "Radar detection probabilities and their  
calculation," IEEE Trans. on Aeros. and Elec. Systems 31  
(1995) 928 (DOI: 10.1109/7.395246).  
Abstract—Multistatic radar systems distributed spatially  
makes it many advantages in terms of the detection,  
resolution improvement, target tracking... In particular,  
multistatic radar systems are highly resistant to  
interference and enhance reliability and monitoring  
capability. The distributed processing multistatic radar  
system is a class of general multistatic radar systems.  
These systems with distributed local decisions and a data  
fusion center demonstrate efficiency in both structural  
simplicity, narrow data bandwidth and negligible loss in  
quality. To evaluate the detection performance of the  
distributed processing multistatic radar system with local  
decisions dependent statistically, the article proposed the  
Copula-based dependence modeling. Then, data fusion  
rules in center were considered, and detection performance  
was evaluated in certain cases. The results show that the  
detection performance of the system is greatly influenced  
by dependency level between local decisions. The  
detection performance deteriorates with positive  
dependence and increases with negative dependence. In  
addition, the quality of detection for Swerling targets is  
also considered to demonstrate the special fit of this  
dependence modeling.  
[17]. D. A. Shnidman: "Update on radar detection probabilities  
and their calculation," IEEE Trans. on Aeros. and Elec.  
Systems 44 (2008) 381 (DOI: 10.1109/taes.2008.4517013).  
[18]. R. Srinivasan: "Distributed radar detection theory," IEE  
PROCEEDINGS 133 (1986) 55 (DOI: 10.1049/ip-f-  
1:19860010).  
[19]. R. Srinivasan: "A theory of distributed detection," Signal  
Processing 11 (1986) 319 (DOI: 10.1016/0165-  
1684(86)90074-5).  
[20]. R. Srinivasan and V. Aalo: "On Counting Rules in  
Distributed Detection," IEEE Trans. on Acoustics Speech  
and Signal Processing 37 (1989) 772 (DOI:  
10.1109/29.17574).  
[21]. R. Srinivasan and A. Ansari: "Distributed Detection of a  
Signal in Generalized Gaussian Noise," IEEE Trans. on  
Acoustics Speech and Signal Processing 37 (1989) 775  
(DOI: 10.1109/29.17575).  
Keywords— Copula, dependence modeling, K-  
distributed clutter, multistatic radar, distributed detection.  
Phạm Văn Hùng tốt nghiệp Đại học  
ngành Điện – Điện tử năm 2011 và  
Thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật radar –  
dẫn đường năm 2016 tại Học viện Kỹ  
thuật quân sự. Hiện đang công tác tại  
Khoa Vô tuyến điện tử, Học viện Kỹ  
thuật quân sự.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Lý thuyết phát  
hiện, lý thuyết phát hiện radar nhiều vị  
trí, xử lý tín hiệu và dữ liệu radar, thiết kế phần cứng.  
[22]. R. Srinivasan, et al.: "Distributed detection of swerling  
targets," IEE Proceedings F Com. Radar and Signal  
Processing 133 (1986) 624 (DOI: 10.1049/ip-f-  
1:19860099).  
[23]. P. Swerling: "Probability of detection for fluctuating  
targets," IRE Trans. on Infor. Theory 6 (1960) 269 (DOI:  
10.1109/tit.1960.1057561).  
Nguyễn Đức Minh tốt nghiệp đại học  
chuyên ngành Vật lý-Vô tuyến năm  
2000 tại Đại học Khoa học tự nhiên-  
Đại học Quốc gia Hà Nội. Tốt nghiệp  
Thạc sỹ ngành Công nghệ Điện tử -  
Viễn thông năm 2006 tại Đại học  
[24]. K. Ward, et al.: Sea Clutter: Scattering, the K Distribution  
and Radar Performance (The Institution of Engineering and  
Technology, London, United Kingdom, 2013) 586.  
[25]. S. Watts: "Radar Detection Prediction in K-Distributed Sea  
Clutter and Thermal Noise," IEEE Trans. on Aeros. and  
Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Nhận bằng tiến sỹ kỹ thuật ngành Kỹ  
thuật Ra đa-Dẫn đường năm 2019 tại  
Học viện Kỹ thuật Quân sự. Hiện đang  
giảng dạy tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Lý thuyết phát hiện trong radar nhiều  
vị trí, xử lý tín hiệu, điện tử máy tính.  
Elec.  
Systems  
AES-23  
(1987)  
40  
(DOI:  
10.1109/taes.1987.313334).  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
130  
                                     
pdf 7 trang yennguyen 13140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát đặc trưng chất lượng phát hiện của hệ thống radar nhiều vị trí với cấu trúc phụ thuộc sử dụng lý thuyết Copula", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_dac_trung_chat_luong_phat_hien_cua_he_thong_radar_n.pdf