Bản thuyết minh Luận án Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3

BẢN THUYẾT MINH  
LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP  
(Bao gồm cả những phát triển mới nhất so với luận án tốt nghiệp cũ)  
ĐỀ TÀI:  
XÂY DỰNG GÓI PHẦN MỀM SFC CHO ĐIỀU KHIỂN  
TRÌNH TỰ THEO CHUẨN IEC 61131-3  
Tác giả : Nghiêm Xuân Trường  
Đơn vị : Bộ môn Điều khiển tự động,  
Khoa Điện, trường Đại học Bách  
Khoa Hà Nội  
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
i
MỤC LỤC  
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
1
1 XUẤT XỨ CỦA ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Điều khiển trình tự là một mảng quan trọng và có vai trò không nhỏ trong điều  
khiển tự động. Có thể gặp rất nhiều ví dụ về điều khiển trình tự trong công  
nghiệp, trong dân dụng cũng như trong nhiều lĩnh vực khác. Các hệ thống trạm  
trộn, lò phản ứng, một dây chuyền sản xuất xi măng hay một máy giặt là các ví  
dụ khá điển hình cho điều khiển trình tự. Đặc biệt trong công nghiệp, điều  
khiển trình tự thường giữ vai trò chính điều khiển các công đoạn, các quá trình  
theo trình tự trong một dây chuyền sản xuất.  
Kể từ sau sự xuất hiện của các PLC và các hệ DCS đầu tiên, các ngôn ngữ lập  
trình điều khiển như LAD, FBD, IL,… đã trở nên phổ biến và được sử dụng rộng  
rãi trong thực tế. Đây là những ngôn ngữ lập trình điều khiển mạnh, được hỗ  
trợ rất hoàn chỉnh trong hầu hết các hệ thống PLC và DCS hiện nay và đã được  
chuẩn hóa trong tiêu chuẩn IEC 61131-3. Tuy nhiên các ngôn ngữ này lại tỏ ra  
không phù hợp cho lập trình điều khiển trình tự bởi những lý do sau:  
o Khó hình dung, thiếu trực quan: các đoạn mã điều khiển trình tự viết  
bằng các ngôn ngữ lập trình này thường thiếu trực quan, khó hình dung.  
Dường như không có một sự liên hệ rõ ràng giữa các đoạn mã lệnh với  
các giai đoạn trong trình tự điều khiển.  
o Do khó hình dung và thiếu trực quan nên việc lập trình điều khiển trình  
tự sử dụng các ngôn ngữ này sẽ gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Ngoài ra,  
việc phân tích, tìm hiểu hệ thống cũng trở nên không đơn giản.  
o Dễ mắc lỗi, khó phát hiện và sửa lỗi: đây là hệ quả tất yếu của những khó  
khăn trên. Việc kiểm tra, phát hiện nguyên nhân và sửa lỗi thường khó  
khăn và tốn kém nhiều thời gian, công sức.  
o Kém linh hoạt, khó mở rộng: khi cần thêm, bớt hay sửa đổi một công  
đoạn nào đó, dù đơn giản, người lập trình cũng có thể gặp nhiều khó  
khăn, phải sửa lại không ít mã chương trình và có thể lại mắc những lỗi  
nào đó.  
Nguyên nhân cơ bản của các khó khăn trên là do bản chất của các ngôn ngữ lập  
trình này không phù hợp để mô tả các hệ thống hoạt động theo trình tự. Ngôn  
ngữ lập trình SFC, một trong các ngôn ngữ lập trình được qui định trong chuẩn  
IEC 61131-3, tỏ ra rất thích hợp cho điều khiển trình tự. Dựa trên cơ sở mạng  
Petri và Grafcet, ngôn ngữ SFC được xây dựng phục vụ cho việc mô tả và lập  
trình điều khiển các hệ thống hoạt động theo trình tự. Grafcet là một công cụ  
 
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
2
mạnh, được xây dựng từ những yêu cầu rất thực tế trong quá trình sử dụng và  
lập trình các thiết bị điều khiển logic khả trình (PLC):  
o Yêu cầu mô tả trình tự các trạng thái của một hệ thống sự kiện rời rạc với  
một số lượng rất lớn các trạng thái.  
o Hỗ trợ khả năng hoạt động song song.  
o Chỉ mô tả những thay đổi, những hành động thực sự được thực hiện khi  
có những thay đổi ở đầu vào và che đi tất cả những gì không thay đổi.  
Điều này làm giảm độ phức tạp của hệ thống và rất hữu ích khi cần tìm  
hiểu, phân tích hay mô tả những hệ thống lớn, phức tạp.  
Ngôn ngữ SFC là sự cụ thể hóa của Grafcet, có tính đến các yếu tố kĩ thuật và  
chức năng điều khiển, và đã được chuẩn hóa. Trong chuẩn IEC 61131-3, SFC  
không được gọi là một ngôn ngữ lập trình mà là một phương pháp mô tả và tổ  
chức các chương trình điều khiển. Tuy nhiên, trong thực tế, SFC vẫn thường  
được gọi và được coi như một ngôn ngữ lập trình điều khiển, cũng giống như các  
ngôn ngữ lập trình LAD, FBD,… Để quen thuộc và tránh gây khó khăn cho  
người đọc, tài liệu này sẽ sử dụng cách gọi “ngôn ngữ lập trình SFC”.  
Ngôn ngữ SFC đã được sử dụng trong một số hệ thống PLC và DCS hiện nay  
như các sản phẩm của Siemens, Emerson, Honeywell,… Tuy nhiên, bên cạnh  
giá thành cao và những hạn chế do vấn đề bản quyền, các sản phẩm phần mềm  
của các hãng này thường đòi hỏi phải đi kèm với các thiết bị phần cứng của  
chính hãng. Nói cách khác, để lập trình cho các thiết bị điều khiển của hãng thì  
phải sử dụng các phần mềm của hãng, và ngược lại phần mềm của hãng cũng  
chỉ dùng được hoặc chỉ phát huy hiệu quả tốt nhất trên những phần cứng của  
hãng. Điều này gây những hạn chế nhất định khi ứng dụng và gây khó khăn cho  
công tác nghiên cứu, giảng dạy. Bên cạnh đó, một số hệ thống thực hiện ngôn  
ngữ lập trình SFC không hoàn chỉnh và thiếu nhiều tính năng đã được qui định  
trong chuẩn.  
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu và thử nghiệm chế tạo các thiết bị  
điều khiển dựa trên nền vi xử lý đang được thúc đẩy khá mạnh mẽ ở Việt Nam.  
Tuy nhiên, có một thực tế là các sản phẩm phần mềm của Việt Nam sử dụng  
cho các thiết bị này lại rất hạn chế và ít được chú ý phát triển. Hầu như chỉ có  
các phần mềm nhỏ, lẻ, đơn giản và chủ yếu phục vụ cho một mục đích sử dụng  
hẹp nào đó.  
Thực tế trên đặt ra khá cấp bách nhu cầu về các phần mềm của Việt Nam phục  
vụ cho lập trình điều khiển, có thể sử dụng trong nghiên cứu giảng dạy và trong  
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
3
công nghiệp. Đó cũng chính là mục đích và động lực để đồ án tốt nghiệp này  
được thực hiện.  
Mục tiêu đặt ra đối với đồ án  
Mục tiêu bước đầu đặt ra là xây dựng một gói phần mềm bao gồm ba phần  
chính:  
o Chương trình chạy (Runtime Engine - RTE) thực thi các chương trình  
điều khiển trên các bộ điều khiển mà không cần biên dịch. Chương trình  
điều khiển được xây dựng dưới dạng cấu hình, sử dụng một ngôn ngữ  
trung gian với định dạng riêng, đảm bảo tính khả chuyển và không phụ  
thuộc nền tảng. Trước mắt, các bộ điều khiển được lựa chọn hỗ trợ là các  
máy tính cá nhân công nghiệp (ví dụ như PC/104), chạy trên nền hệ điều  
hành Windows NT.  
o Công cụ phát triển trực quan (Visual Engineering Tool - VET) cho phép  
lập trình điều khiển một cách trực quan bằng phương pháp kéo – thả và  
khai báo đặt cấu hình cũng như hỗ trợ theo dõi quá trình hoạt động của  
hệ thống điều khiển theo từng bước. Ngôn ngữ lập trình được hỗ trợ đầu  
tiên là SFC. Các ngôn ngữ lập trình khác sẽ dần được thực hiện trong thời  
gian tới.  
o Các module phần mềm mô phỏng đối tượng điều khiển trình tự là công  
cụ rất hữu ích phục vụ cho công tác học tập, giảng dạy, thí nghiệm. Hai  
đối tượng điều khiển trình tự được mô phỏng là lò phản ứng và máy giặt.  
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
4
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1 Cơ sở lý thuyết  
Trong xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của khoa  
học công nghệ, các chuẩn quốc tế có vai trò ngày càng quan trọng. Việc tuân  
theo các chuẩn quốc tế sẽ giúp cho sản phẩm có tính linh hoạt và tương thích  
cao hơn, khả năng ứng dụng trong thực tế tốt hơn đồng thời có tính sẵn sàng  
cao đối với sự phát triển và thay đổi trong tương lai. Thực tế, việc hỗ trợ và tuân  
theo các chuẩn quốc tế đã trở thành một yêu cầu bắt buộc đối với các sản phẩm  
tự động hóa, vốn được sử dụng nhiều trong lĩnh vực công nghiệp cũng như  
nhiều lĩnh vực quan trọng khác. Không nằm ngoài qui luật đó, đồ án tốt nghiệp  
này được thực hiện trên cơ sở chuẩn IEC 61131-3 (từ nay gọi tắt là chuẩn).  
IEC 61131 là tiêu chuẩn về bộ điều khiển khả trình PLC và các thiết bị ngoại vi  
đi kèm, gồm 9 phần. Phần 3 của chuẩn này (gọi tắt là IEC 61131-3) định nghĩa  
các ngôn ngữ lập trình cho các thiết bị điều khiển khả trình, bao gồm: biểu đồ  
hình thang (Ladder Diagram, LD), biểu đồ khối chức năng (Function Block  
Diagram, FBD), liệt kê lệnh (Instruction List, IL), ngôn ngữ kiểu văn bản có cấu  
trúc (Structured Text, ST), và phương pháp lập trình đồ họa SFC (Sequential  
Function Chart) để biểu diễn các thuật toán điều khiển trình tự. Bên cạnh việc  
định nghĩa các ngôn ngữ lập trình, IEC 61131-3 còn đưa ra mô hình phần mềm,  
mô hình giao tiếp và mô hình lập trình cùng những thành phần quan trọng của  
chúng như chương trình (Program), khối chức năng (Function Block), hàm  
(Function), tác vụ (Task),…  
Một hệ thống sự kiện rời rạc (discrete-event system) là một hệ thống bao gồm  
một số hữu hạn các trạng thái (state) và sự chuyển tiếp (transition) từ một  
trạng thái này sang một trạng thái khác của hệ thống được quyết định bởi các sự  
kiện (event). Các sự kiện này không xác định trước về thời điểm xuất hiện. Một  
ví dụ đơn giản và điển hình của hệ thống sự kiện rời rạc là một chiếc đèn điện.  
Một đèn điện chỉ có hai trạng thái là bật và tắt. Việc chuyển đổi giữa hai trạng  
thái này được quyết định bởi sự kiện bật/tắt công tắc điện.  
Bài toán điều khiển trình tự là một trường hợp của hệ thống sự kiện rời rạc,  
trong đó có sự phối hợp của điều khiển logic và điều khiển quá trình. Trong bài  
toán điều khiển trình tự, điều được quan tâm hàng đầu là trình tự và sự thực  
hiện của các quá trình chứ không phải là việc điều khiển từng quá trình cụ thể.  
SFC là một phương pháp biểu diễn các thuật toán điều khiển trình tự, đặc biệt  
tiện dụng khi mô tả hoạt động của một hệ thống điều khiển quá trình phức tạp.  
SFC được xây dựng trên cơ sở mạng Petri và chuẩn IEC 848 Grafcet với một số  
thay đổi nhất định cho phù hợp với chức năng điều khiển. SFC tỏ ra phù hợp  
nhất cho lập trình điều khiển trình tự với các ưu điểm sau:  
 
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
5
o Có sự tương ứng và giống với biểu đồ quá trình hoạt động của hệ thống.  
o Dễ dàng chuyển từ sơ đồ công nghệ hay mô tả quá trình hoạt động của hệ  
thống sang SFC.  
o Lập trình trực quan, đơn giản.  
o Thuận lợi cho phân tích, tìm hiểu hệ thống.  
o Hạn chế khả năng mắc lỗi. Dễ dàng tìm và phát hiện các lỗi nếu có.  
o Linh hoạt, dễ dàng thêm, bớt hay sửa đổi quá trình hoạt động.  
Các yếu tố cơ bản của SFC là bước (Step), chuyển tiếp (Transition) và hành  
động (Action).  
Bước: diễn tả một trạng thái mà tại đó, ứng xử của  
hệ thống được xác định trước bởi các hành động gắn  
với bước đó. Một bước có thể tích cực (active) hoặc  
không tích cực (inactive). Tại một thời điểm bất kì,  
trạng thái của hệ thống được xác định bởi tập hợp  
Step1  
Step0  
Bước thường  
Bước bắt đầu  
các bước tích cực và các giá trị biến nội tại và biến ra. Mỗi mạng SFC chỉ có  
chính xác duy nhất một bước bắt đầu (initial step), xác định trạng thái ban đầu  
của hệ thống. Một bước được thể hiện dạng đồ họa bằng một khối hình chữ  
nhật, có một đầu vào và một đầu ra. Bước bắt đầu được biểu diễn bằng một  
hình chữ nhật với đường bao là nét đôi (xem hình bên).  
Chuyển tiếp: thể hiện một điều kiện chuyển trạng thái của hệ  
thống, từ một hay nhiều bước phía trước xuống một hay nhiều  
bước phía sau. Mỗi chuyển tiếp được gắn với một điều kiện chuyển  
ChuyÓn tiÕp  
tiếp (transition condition) mà giá trị logic của nó sẽ điều khiển sự  
thực hiện của quá trình chuyển tiếp. Các bước phải được nối với nhau thông  
qua các chuyển tiếp. Có ba loại chuyển tiếp được qui định trong chuẩn là:  
chuyển tiếp đơn giản, chuyển tiếp phân nhánh cạnh tranh, chuyển tiếp phân  
nhánh song song.  
Hành động: là tập hợp các luật ứng xử của  
Step1  
N
Q0.0  
Q0.1  
C¸c khèi  
hμnh ®éng  
hệ thống được thực hiện khi bước mà nó  
gắn với được tích cực. Một hành động có thể  
đơn giản chỉ là một biến Bool (Bool Action),  
cũng có thể là một đoạn chương trình viết  
bằng một trong các ngôn ngữ lập trình đã  
D
T#1s  
T1  
Hμnh ®éng  
Qualifier cña  
khèi hμnh ®éng  
định nghĩa trong chuẩn. Các hành động không gắn trực tiếp với các bước mà  
gián tiếp thông qua các khối hành động (Action Block). Một khối hành động chỉ  
gắn với một hành động duy nhất và một bước duy nhất. Mỗi khối hành động có  
một cờ (qualifier) xác định cách thức hoạt động của nó. Bảng dưới đây tóm tắt ý  
nghĩa của các cờ đã được qui định trong chuẩn.  
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
6
Cờ  
Ý nghĩa  
Cờ  
Ý nghĩa  
Trống Giống như N  
P
Xung  
N
R
S
L
Không lưu trữ  
Xoá  
SD  
DS  
SL  
P1  
P0  
Lưu trữ và trễ thời gian  
Trễ thời gian và lưu trữ  
Lưu trữ và giới hạn thời gian  
Sườn lên  
Lưu trữ (đặt)  
Giới hạn về thời gian  
Trễ thời gian  
D
Sườn xuống  
Luật chuyển tiếp: quá trình chuyển tiếp sẽ xảy ra khi tất cả các bước phía  
trước nó tích cực và điều kiện chuyển tiếp được thoả mãn. Quá trình chuyển  
tiếp diễn ra theo trình tự sau:  
o Tất cả các bước ở phía trước chuyển tiếp và nối trực tiếp với chuyển tiếp  
đồng thời mất tích cực.  
o Tất cả các bước ở phía sau chuyển tiếp và nối trực tiếp với chuyển tiếp  
đồng thời được tích cực.  
o Sau khi đã được tích cực đồng thời, các bước ở phía sau chuyển tiếp sẽ  
hoạt động độc lập với nhau.  
Xem ví dụ ở phần 3.3.1 để có hình dung cụ thể hơn về SFC.  
2.2 Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp nghiên cứu đúng đắn, khoa học là điều kiện tiên quyết để có thể  
đạt được những kết quả tốt trong nghiên cứu khoa học. Các phương pháp  
nghiên cứu chính đã được sử dụng khi thực hiện đồ án này là:  
2.2.1 Phương pháp phân tích, thiết kế và lập trình hướng đối tượng  
Đây là một phương pháp mạnh và rất hiệu quả trong thiết kế và xây dựng phần  
mềm. Phương pháp này nhìn hệ thống, nhìn sự việc, vấn đề theo quan điểm đối  
tượng, trong đó giữ vai trò cơ bản và trung tâm là đối tượng. Một hệ thống được  
coi như một tập hợp các đối tượng cũng như quan hệ giữa các đối tượng đó.  
Phương pháp này cho ta một cái nhìn đúng đắn hơn, chính xác hơn về thế giới  
thực, cho phép mô tả hệ thống đúng như nó tồn tại trong thực tế và không bị  
phụ thuộc vào cách mô tả, cách hoạt động của máy tính. Sử dụng phương pháp  
phân tích, thiết kế và lập trình hướng đối tượng giúp tăng tính linh hoạt, độ ổn  
định, khả năng mở rộng và sử dụng lại của phần mềm, đồng thời giảm chi phí  
và tăng hiệu quả công việc.  
 
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
7
So với các phương pháp khác, đặc biệt là phương pháp thiết kế cấu trúc,  
phương pháp phân tích, thiết kế hướng đối tượng có những ưu điểm sau:  
o Đảm bảo sự tương ứng giữa mô hình phân tích và mô hình thiết kế: với  
phương pháp cổ điển, mặc dù cùng là của một hệ thống nhưng mô hình  
phân tích và mô hình thiết kế không có sự tương ứng cao, do đó việc  
chuyển đổi qua lại giữa hai mô hình gặp nhiều khó khăn. Kết quả là nếu  
hệ thống có những thay đổi thì việc thực hiện lại quá trình phân tích và  
thiết kế sẽ phức tạp và khó khăn. Với thiết kế hướng đối tượng, giữa hai  
mô hình gần như có sự tương đồng nên ít gặp phải những khó khăn trên.  
o Tăng tính trừu tượng của bài toán: mô hình hướng đối tượng duy trì mối  
liên hệ chặt chẽ giữa dữ liệu và các thao tác (operation) trên dữ liệu trong  
một thực thể thống nhất. Điều này phản ảnh đúng bản chất của thế giới  
thực, do đó phương pháp phân tích, thiết kế hướng đối tượng đạt được  
tính trừu tượng bài toán cao hơn.  
o Tăng được tính ổn định trước những thay đổi.  
o Tăng tính sử dụng lại.  
o Tăng tính linh hoạt và khả năng mở rộng dễ dàng.  
o Độ tin cậy và an toàn cao.  
o Hỗ trợ khả năng hoạt động song song: bản chất của các đối tượng là tồn  
tại và hoạt động độc lập, có tương tác với môi trường. Do đó, trừ khi có sự  
chỉ định đặc biệt, các đối tượng luôn hoạt động song song.  
Trong đồ án này, ngôn ngữ mô hình hóa thống nhất (UML – Unified Modelling  
Language) được sử dụng phục vụ cho việc phân tích, thiết kế và mô tả hệ thống  
phần mềm.  
2.2.2 Sử dụng mẫu thiết kế  
Mẫu thiết kế là sự hình thức hóa của cách tiếp cận một vấn đề thường gặp trong  
một ngữ cảnh cụ thể. Mỗi mẫu thiết kế là một giải pháp cho một vấn đề thiết kế  
cụ thể trong một ngữ cảnh xác định. Giải pháp được đưa ra đã được chứng  
minh là đúng, được sử dụng nhiều lần đem lại kết quả tốt và do đó được trừu  
tượng hóa thành một mẫu. Mẫu thiết kế chính là kinh nghiệm thiết kế được đúc  
kết lại thành mẫu chuẩn mực. Sử dụng mẫu thiết kế, người thiết kế không phải  
thiết kế hệ thống từ đầu, không phải giải quyết lại những bài toán đã được giải  
quyết mà sử dụng các kinh nghiệm, tri thức và kết quả đã có từ trước. Điều này  
làm cho chất lượng thiết kế tốt hơn, tăng tính sử dụng của bản thiết kế và tạo điều  
kiện cho người thiết kế tập trung vào sáng tạo những cái mới.  
Việc thiết kế những phần mềm hướng đối tượng có khả năng sử dụng lại không  
đơn giản. Thiết kế cần tập trung vào vấn đề cụ thể nhưng cũng phải đủ tổng quát  
để phục vụ cho những yêu cầu và các vấn đề cần giải quyết trong tương lai. Trong  
quá trình thiết kế, những giải pháp tốt sẽ được người thiết kế sử dụng lại nhiều lần  
 
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
8
và xây dựng thành các mẫu. Những mẫu này giúp tạo ra những thiết kế hướng đối  
tượng mềm dẻo, uyển chuyển và có khả năng sử dụng lại.  
Một số mẫu thiết kế đã được sử dụng có hiệu quả trong quá trình thiết kế và  
thực hiện các phần mềm trong đồ án này là: Interpreter, Abstract Factory,  
Chain of Responsibility,…  
2.2.3 Tìm hiểu các sản phẩm tương tự đã có  
Trong thực tế đã có nhiều sản phẩm tương tự như các phần mềm thực hiện  
trong đồ án này tồn tại trên thị trường. Hầu hết các sản phẩm này là của các  
công ty, các hãng lớn và có uy tín như Siemens, Emerson, Honeywell, ABB,…  
Đây là những sản phẩm rất hoàn chỉnh, đã được sử dụng, kiểm nghiệm và công  
nhận trong thực tế. Việc tham khảo và tìm hiểu kĩ các sản phẩm này đem lại  
nhiều lợi ích cho quá trình thực hiện đồ án này như:  
o Tìm hiểu những đặc điểm chung của các sản phẩm này. Mặc dù có thể  
không được qui định thành chuẩn nhưng giữa các sản phẩm bao này giờ  
cũng tồn tại những điểm chung về giao diện, cách thức hoạt động, tính  
năng,… Việc tuân theo những điểm chung này sẽ giúp cho sản phẩm tạo  
ra quen thuộc với người sử dụng hơn và dễ được chấp nhận hơn.  
o Tìm hiểu những ưu, nhược điểm của từng sản phẩm. Rút kinh nghiệm từ  
những điều này, sản phẩm tạo ra sẽ có thể có được nhiều ưu điểm và hạn  
chế được các nhược điểm.  
Trước khi thực hiện đồ án này, các sản phẩm sau đã được tìm hiểu: Centum  
CS-3000 của Yokogawa, DeltaV của Emerson Process Management.  
 
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
9
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC  
Quá trình thực hiện đồ án này bao gồm các giai đoạn sau:  
o Nghiên cứu, tìm hiểu kĩ nội dung của chuẩn IEC 61131-3.  
o Tìm hiểu một số sản phẩm tương tự đã có mặt trên thị trường.  
o Phân tích và thiết kế cấu trúc tổng quát và chi tiết của gói phần mềm.  
Phương pháp phân tích và thiết kế hướng đối tượng được sử dụng trong  
giai đoạn này với sự trợ giúp của ngôn ngữ mô hình hóa thống nhất UML.  
o Lập trình và xây dựng gói phần mềm theo thiết kế đã có. Ngôn ngữ lập  
trình hướng đối tượng C++ được sử dụng chủ yếu.  
Sản phẩm của đồ án là một gói phần mềm bao gồm ba thành phần chính:  
o Chương trình chạy (Runtime engine, RTE).  
o Công cụ phát triển trực quan (Visual Engineering Tools, VET).  
o Các module phần mềm mô phỏng đối tượng điều khiển trình tự.  
Mối quan hệ giữa các thành phần trong gói phần mềm được thể hiện trong sơ đồ  
dưới đây.  
Mô phỏng và quan sát  
Công cụ phát triển trực quan  
(Simulator and Supervisor)  
(Visual Engineering Tools)  
Chương trình  
điều khiển  
Trạng thái  
hoạt động  
Trạng thái hoạt  
động, tín hiệu ra  
Tín hiệu vào  
Chương trình điều khiển  
Không phụ thuộc nền tảng  
Chương trình chạy (Runtime Engine)  
Phụ thuộc nền tảng  
Hình dưới đây biểu diễn vị trí và vai trò của các thành phần phần mềm nói trên  
khi được cài đặt trong một hệ thống điều khiển phân tán điển hình. Trong sơ đồ  
này, chương trình chạy được cài đặt trên các bộ điều khiển dựa trên nền vi xử  
lý (ví dụ như PC/104, …), sử dụng hệ điều hành thời gian thực. Cài đặt trên  
trạm kĩ thuật (Engineering Station) là phần mềm công cụ phát triển trực quan  
và các module phần mềm mô phỏng, sử dụng hệ điều hành Windows  
NT/2000/XP. Các phần mềm này có thể giao tiếp, trao đổi dữ liệu với nhau  
thông qua mạng (ví dụ như mạng Ethernet).  
 
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
10  
Visual Engineering Tools  
(+ Simulator)  
Simulator  
Windows NT. 2000, XP  
Windows NT. 2000, XP  
Engineering Station  
Configuration Data  
Runtime Engine  
Runtime Engine  
Runtime Engine  
RTOS  
RTOS  
RTOS  
Controller (PC/104)  
Controller (iPC)  
Controller (μC-based)  
I/O  
I/O  
I/O  
Process  
Phần dưới đây sẽ trình bày tóm tắt về từng thành phần trong gói phần mềm –  
sản phẩm của đồ án.  
3.1 Chương trình chạy (Runtime Engine – RTE)  
Chương trình chạy là phần mềm chạy trên các bộ điều khiển như các máy tính  
cá nhân công nghiệp (iPC), các bộ điều khiển dựa trên nền vi xử lý, … Nhiệm vụ  
chính của chương trình chạy là thực thi chương trình điều khiển do người sử  
dụng tạo ra và nạp xuống và thực hiện giao tiếp với các thiết bị vào/ra.  
Một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với gói phần mềm nói chung và với chương  
trình chạy nói riêng là việc lập trình điều khiển không cần trình biên dịch và  
chương trình điều khiển tạo ra phải có tính khả chuyển cao, nghĩa là không phụ  
thuộc vào nền tảng (phần cứng và hệ điều hành) cụ thể. Nói cách khác, chương  
trình điều khiển sau khi tạo ra có thể thực hiện trên các bộ điều khiển khác  
nhau, sử dụng các hệ điều hành khác nhau mà không cần phải thay đổi gì. Để  
thực hiện được yêu cầu này, chương trình điều khiển nạp xuống được xây dựng  
dưới dạng cấu hình và được mô tả bằng một ngôn ngữ trung gian do tác giả tự  
xây dựng, với một cấu trúc định dạng (format) riêng, không phụ thuộc vào một  
nền tảng thực thi cụ thể nào.  
Được lập trình sử dụng ngôn ngữ lập trình ANSI C++ và hạn chế tối đa việc sử  
dụng các thư viện lập trình ngoài, chương trình chạy có tính khả chuyển khá  
cao và có thể dễ dàng được biên dịch và thực thi trên các nền tảng khác nhau.  
 
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
11  
Cấu trúc của chương trình chạy được mô tả trong hình dưới.  
Không gian thực thi  
Cấu hình  
Đối  
Đối  
tượng  
tượng  
Stream  
Tạo liên kết  
Đối  
Trình nạp cấu hình  
tượng  
Tạo đối tượng  
Phần cốt lõi (core)  
Các kiểu đối tượng, vào/ra, các dịch vụ hệ thống, xử lý lỗi,…  
Phần cốt lõi là thành phần nền tảng của toàn bộ chương trình chạy, thực hiện  
các chức năng cơ bản và quan trọng nhất như các dịch vụ hệ thống (dịch vụ thời  
gian, xử lý cạnh tranh, xử lý lỗi, …), giao diện vào/ra, hệ thống các kiểu đối  
tượng, … Trình nạp cấu hình thực hiện chức năng đọc các mô tả trong cấu  
hình, tiến hành phân tích, kiểm tra và tạo ra các đối tượng cụ thể cũng như thiết  
lập quan hệ giữa các đối tượng đó. Không gian thực thi bao gồm toàn bộ các đối  
tượng, cũng như quan hệ giữa chúng, được tạo ra trong quá trình nạp cấu hình.  
Chính các đối tượng và quan hệ trong không gian thực thi sẽ tạo thành chương  
trình điều khiển thực sự có khả năng thực thi. Toàn bộ quá trình thực thi được  
thực hiện bằng các lời gọi hàm (trực tiếp hay thông qua con trỏ) với sự hỗ trợ và  
điều hành của phần cốt lõi, nhờ đó vẫn đảm bảo được tốc độ thực thi tốt mặc  
dù không lập trình với mã máy trực tiếp.  
Chương trình chạy đã thực hiện có những đặc điểm chính sau.  
1. Tính năng thời gian và độ ổn định tốt.  
2. Hỗ trợ chuẩn IEC 61131-3:  
• Hỗ trợ các kiểu dữ liệu thông dụng bao gồm kiểu logic (BOOL), kiểu số  
nguyên (INTEGER) và kiểu số thực (REAL). Hỗ trợ các kiểu dữ liệu  
tổng quát – một tính năng nâng cao cho phép sử dụng dễ dàng cùng  
một đoạn mã lệnh chương trình với các kiểu dữ liệu khác nhau.  
• Thực hiện hai kiểu tác vụ là tác vụ tuần hoàn (periodic task) và tác vụ  
theo sự kiện (event task).  
• Thực hiện khá hoàn chỉnh ngôn ngữ SFC.  
• Sẵn sàng hỗ trợ thực hiện các ngôn ngữ lập trình khác (FBD, ST, …).  
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
12  
3. Mô tả chương trình điều khiển theo kiểu cấu hình, sử dụng một ngôn ngữ  
trung gian với cấu trúc định dạng riêng. Chương trình điều khiển không  
phụ thuộc nền tảng thực thi.  
4. Cơ chế hỗ trợ nhiều loại hệ thống vào/ra khác nhau: vào/ra tập trung,  
vào/ra phân tán.  
5. Hỗ trợ giám sát, kiểm tra quá trình thực thi chương trình điều khiển một  
cách chi tiết. Tính năng này rất hữu ích cho quá trình thử nghiệm và sửa  
lỗi chương trình điều khiển.  
6. Tính khả chuyển tốt, dễ dàng thực hiện trên các nền tảng phần cứng và  
hệ điều hành khác nhau. Hiện tại, một phiên bản chương trình chạy dạng  
COM Server cho Win32 đã được xây dựng, sử dụng công nghệ (D)COM  
cho phép hoạt động phối hợp trên mạng. Giao tiếp COM đơn giản, dễ sử  
dụng, đặc biệt là với Visual Basic.  
7. Linh hoạt, dễ phát triển và mở rộng.  
3.2 Công cụ phát triển trực quan (Visual Engineering Tools)  
Công cụ phát triển trực quan (VET) là thành phần phần mềm quan trọng, lớn  
nhất và phức tạp nhất trong gói phần mềm. Đây là một công cụ lập trình trực  
quan, cho phép người sử dụng lập trình theo kiểu đặt cấu hình rất dễ dàng, đơn  
giản và tiện lợi. Thao tác chủ yếu trong quá trình lập trình điều khiển sử dụng  
VET là các thao tác kéo - thả, đặt thông số, mô tả cấu hình,… Sau khi lập trình  
xong, phần mềm cho phép xây dựng (build) tạo ra chương trình điều khiển và  
có thể tải trực tiếp xuống chương trình chạy để thực thi. Bên cạnh chức năng hỗ  
trợ lập trình điều khiển, phần mềm cũng cho phép quan sát, theo dõi quá trình  
thực thi chương trình điều khiển với giao diện đồ họa trực quan, giúp dễ dàng  
kiểm tra, phát hiện và sửa lỗi.  
3.2.1 Cơ chế lưu trữ và trao đổi dữ liệu  
Project (dự án)  
Cũng giống như các phần mềm tương tự  
Global Variables (các biến toàn cục)  
khác, phần mềm VET sử dụng khái niệm  
Memory Variables (các biến bộ nhớ)  
dự án (project). Bên trong dự án là dữ liệu  
IO Variables (các biến vào ra)  
về cấu hình hệ thống, các module chương  
Control Modules (các module điều khiển)  
trình điều khiển cùng nhiều dữ liệu liên  
SFC Modules (các module SFC)  
quan khác. Hình bên trình bày sơ lược về  
Local Variables (các biến cục bộ)  
cấu trúc dạng cây của một dự án. Cấu trúc  
cây này cũng được sử dụng trong giao diện  
đồ họa của phần mềm giúp người sử dụng  
dễ dàng truy cập và thao tác với các phần  
Steps (các bước)  
Transitions (các chuyển tiếp)  
Tasks (các tác vụ)  
Periodic Tasks (các tác vụ theo chu kỳ)  
Event Tasks (các tác vụ theo sự kiện)  
khác nhau của dự án.  
IO Modules (các module vào ra)  
Slaves (các slave)  
Slots (các slot)  
 
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
13  
Cơ chế lưu trữ dữ liệu trong phần mềm này dựa trên một số tiêu chí sau:  
o Khả năng trao đổi thông tin cao. Trong một hệ thống có thể có nhiều  
phần mềm khác nhau cùng được sử dụng và phối hợp hoạt động. Việc  
trao đổi thông tin giữa các phần mềm này vì thế rất cần thiết. Nếu các  
phần mềm này không có khả năng hiểu lẫn nhau, không thể trao đổi  
thông tin trực tiếp với nhau mà phải thông qua quá trình chuyển đổi phức  
tạp hay thậm chí không thể trao đổi thông tin thì hoạt động của hệ thống  
sẽ phức tạp và kém hiệu quả. Đặc biệt người sử dụng sẽ gặp rất nhiều  
khó khăn trong quá trình vận hành hệ thống. Việc tuân theo các chuẩn  
quốc tế về lưu trữ và trao đổi dữ liệu là điều kiện quan trọng để đảm bảo  
yêu cầu về khả năng trao đổi thông tin cao. Hiện nay, xu thế chung của  
các phần mềm là sử dụng một cấu trúc lưu trữ dữ liệu thống nhất là XML  
để lưu trữ và trao đổi thông tin. Một số chuẩn như IEC 61499 còn qui  
định phải sử dụng XML.  
o Cấu trúc lưu trữ phải không quá phức tạp nhưng chặt chẽ, hiệu quả.  
o Tính linh hoạt, khả năng phát triển và mở rộng cao. Đây là một yêu cầu  
cần thiết để đảm bảo sự mở rộng và phát triển lâu dài của phần mềm,  
nhất là trong giai đoạn ban đầu.  
Với những tiêu chí đề ra ở trên thì ngôn ngữ XML tỏ ra thích hợp nhất. XML  
(Extensible Markup Language) là một tập con và là một phiên bản đơn giản  
hóa của ngôn ngữ SGML (Standard Generelized Markup Language) – một  
chuẩn quốc tế về một loại siêu ngôn ngữ có khả năng tạo ra các loại siêu ngôn  
ngữ đánh dấu khác. XML là một ngôn ngữ đánh dấu cho các tài liệu chứa đựng  
thông tin đã được cấu trúc hóa. Điểm đặc biệt là XML có tính linh hoạt, khả  
năng tùy biến và mở rộng cao nhờ cho phép người dùng tự định nghĩa các thẻ  
cho riêng mình với ý nghĩa xác định. XML là một phương pháp lưu trữ thông tin  
hiệu quả và ngày càng được sử dụng phổ biến nhờ những ưu điểm chính sau:  
o Cho phép người dùng tự tạo những bộ thẻ của riêng họ.  
o Sự phân tích XML được thực hiện rất chặt chẽ và chính xác.  
o XML được xây dựng trên nền tảng Unicode, do đó có khả năng tạo ra  
những tài liệu chuẩn hóa quốc tế.  
o Khuôn dạng XML dựa trên cơ sở văn bản, do vậy rất dễ đọc,dễ hiểu.  
o XML được hỗ trợ trên nhiều môi trường khác nhau, tạo điều kiện thuận  
lợi cho sự trao đổi dữ liệu và có thể thay thế cho khuôn dạng nhị phân.  
Ngôn ngữ XML được lựa chọn sử dụng chính thức cho phần mềm VET. Tuy  
nhiên, sự phát triển trong tương lai của gói phần mềm có thể yêu cầu phải sử  
dụng một hệ cơ sở dữ liệu (CSDL) hoàn chỉnh thay vì một định dạng lưu trữ dữ  
liệu đơn thuần như XML. Việc lựa chọn sử dụng XML trong thời điểm hiện tại sẽ  
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về sau này bởi hầu hết các hệ CSDL  
hiện nay đều hỗ trợ định dạng XML như một chuẩn quốc tế về trao đổi dữ liệu.  
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
14  
3.2.2 Trao đổi thông tin giữa các thành phần trong gói phần mềm  
Các thành phần trong gói phần mềm không phải là những phần mềm tách biệt  
mà nằm trong một hệ thống chặt chẽ và thống nhất. Mỗi phần mềm đều có sự  
liên quan ở mức độ nhất định đến các phần mềm khác. Mặc dù từng phần mềm  
có thể hoạt động riêng mà không cần đến các phần mềm khác trong gói nhưng  
sự hoạt động phối hợp giữa chúng sẽ đem lại hiệu quả lớn hơn nhiều. Nhờ sự  
phối hợp này, từ phần mềm công cụ phát triển trực quan, người sử dụng có thể  
khởi động chương trình chạy (trên cùng một máy tính hoặc trên một máy tính  
khác), nạp và thực thi chương trình điều khiển, theo dõi chi tiết quá trình hoạt  
động của chương trình điều khiển từ giao diện đồ họa của VET, đồng thời có thể  
mô phỏng các đối tượng điều khiển trên máy tính. Quá trình chuyển từ giai  
đoạn mô phỏng sang giai đoạn chạy thực tế khá đơn giản.  
Để đảm bảo cho sự hoạt động phối hợp trên có hiệu quả, cần phải có một cơ  
chế trao đổi thông tin thống nhất giữa các phần mềm, hay nói cách khác các  
phần mềm phải “hiểu” nhau. Việc trao đổi thông tin giữa các thành phần trong  
gói phần mềm, trong đó chủ yếu là giữa phần mềm công cụ phát triển trực  
quan với các phần mềm khác, được thực hiện nhờ công nghệ DCOM. DCOM là  
sự mở rộng của COM – một mô hình đối tượng thành phần và là nền tảng cho  
nhiều công nghệ phần mềm quan trọng của hãng Microsoft. Ưu điểm của công  
nghệ này là tính trong suốt phân tán, nghĩa là sự giao tiếp không phụ thuộc vào  
vị trí của các đối tượng giao tiếp (trên cùng một máy tính hay trên các máy tính  
khác nhau có nối mạng), không phụ thuộc vào mạng truyền thông và giao thức  
truyền thông cụ thể, không phụ thuộc vào hệ điều hành cũng như ngôn ngữ lập  
trình sử dụng.  
Qua thử nghiệm thực tế, cơ chế giao tiếp này đã hoạt động tốt và tỏ ra có hiệu  
quả, đáp ứng được các yêu cầu đề ra.  
3.2.3 Giao diện đồ họa chuẩn, dễ sử dụng, tính thông tin cao  
Phần mềm VET được xây dựng trên nền hệ điều hành Windows, có thể chạy  
trên tất cả các phiên bản của hệ điều hành này nhưng sẽ đạt hiệu quả tốt nhất  
trên các phiên bản Windows NT/2000/XP. Đây cũng là các phiên bản hệ điều  
hành được sử dụng phổ biến trong thực tế.  
Giao diện đồ họa của phần mềm sử dụng các phần tử đồ họa chuẩn (trình đơn  
chính, trình đơn cảm ngữ cảnh, thanh công cụ, cửa sổ công cụ,…), được thiết kế  
cẩn thận và hợp lý, mang nhiều nét quen thuộc với các phần mềm phổ biến như  
Windows Explorer, Microsoft Visio, Microsoft Visual Basic,… Vì vậy, việc sử  
dụng phần mềm này khá đơn giản và tiện lợi. Hình dưới đây là một màn hình  
giao diện chính điển hình của phần mềm VET.  
 
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
Trình đơn và các thanh công cụ  
15  
Cấu  
trúc  
cây  
dự  
án  
Cửa sổ  
chính để  
duyệt và  
Thay  
đổi  
soạn thảo  
thuộc  
tính  
Cửa sổ các thông báo  
Màn hình giao diện chính của VET gồm 5 phần:  
o Phía trên cùng là hệ thống trình đơn và các thanh công cụ. Đây là nơi  
cho phép truy cập đến toàn bộ các tính năng của phần mềm. Các thanh  
công cụ cho phép truy cập nhanh đến các chức năng chính.  
o Phần phía trên bên trái là khung hiển thị cấu trúc cây (tree view) của  
dự án. Phần này liệt kê đầy đủ các thành phần trong một dự án, từ các  
module điều khiển, các tác vụ, các module vào/ra đến từng biến thành  
viên. Khung hiển thị này cho phép người lập trình có cái nhìn tổng quát về  
toàn bộ hệ thống, đồng thời có thể truy cập và thao tác nhanh chóng với  
từng thành phần trong hệ thống.  
o Phần phía dưới bên trái là cửa sổ soạn thảo  
thuộc tính. Đây là nơi người sử dụng soạn  
thảo các thuộc tính của các đối tượng –  
phần tử trong dự án. Mỗi một phần tử trong  
dự án, dù rất đơn giản, đều có các thuộc  
tính (như tên, kiểu dữ liệu, giá trị, chú  
thích,…). Khi người sử dụng chọn một phần  
tử của dự án từ bất kì một vị trí nào trong  
phần mềm thì cửa sổ này sẽ hiển thị danh  
sách và nội dung các thuộc tính của phần tử  
đó. Thao tác soạn thảo được thực hiện trực  
tiếp trên cửa sổ này với các phần tử đồ họa  
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
16  
như hộp soạn thảo văn bản, danh sách kéo xuống,… Tính năng này giống  
với nhiều phần mềm quen thuộc khác, đặc biệt là phần mềm Visual  
Basic, giúp người sử dụng thuận tiện nhất trong thao tác.  
o Phần bên phải là khung cửa sổ chính được sử dụng để:  
+ Hiển thị danh sách các đối tượng trong một phần của hệ thống. Nội  
dung được hiển thị chi tiết bao gồm cả tên, các thuộc tính và chú thích  
của từng đối tượng. Người lập trình có thể soạn thảo trực tiếp các  
thuộc tính của đối tượng ngay trên cửa sổ này.  
+ Soạn thảo mã chương trình điều khiển, ví dụ: soạn thảo sơ đồ SFC.  
o Phần dưới cùng là cửa sổ các thông báo: đây là nơi hiển thị các thông  
báo của chương trình đối với người sử dụng, bao gồm các cảnh báo, các  
thông báo lỗi và một số loại thông báo khác. Đặc biệt, người sử dụng có  
thể nhanh chóng truy cập đến vị trí xảy ra lỗi chỉ với một thao tác kích  
đúp chuột vào dòng thông báo lỗi.  
Ngoại trừ khung cửa sổ chính luôn luôn hiện hữu, các khung khác đều có thể  
được di chuyển, thay đổi kích thước cũng như cho ẩn / hiện.  
Phần mềm VET sử dụng bộ mã Unicode khi thực thi trên các hệ điều hành có  
hỗ trợ bộ mã này, do đó cho phép người dùng sử dụng các ngôn ngữ không phải  
tiếng Anh trong dự án, ví dụ như tiếng Việt (xem các hình trên).  
Một đặc điểm quan trọng của phần mềm VET là tính thông tin cao. Gần như tại  
bất kì một vị trí nào, người sử dụng đều có thể nhanh chóng truy cập đến các vị  
trí khác trong dự án, đặc biệt là các vị trí có liên quan đến vị trí hiện thời, cũng  
như dễ dàng có được các thông tin về một phần tử trong dự án. Các trình đơn  
cảm ngữ cảnh được sử dụng triệt để giúp truy cập nhanh đến các chức năng  
quan trọng của phần mềm.  
3.2.4 Soạn thảo biểu đồ SFC  
Ngôn ngữ lập trình SFC đã được hỗ trợ tương đối hoàn thiện trong gói phần  
mềm, tuân theo các qui định trong chuẩn IEC 61131-3. Phần mềm VET cho  
phép người sử dụng tạo và soạn thảo các module điều khiển theo biểu đồ SFC  
với giao diện đồ họa trực quan, dễ sử dụng. Mọi thao tác soạn thảo biểu đồ SFC  
đều được thực hiện trong khung cửa sổ chính. Tất cả các phần tử trong biểu  
đồ SFC (các bước và các chuyển tiếp) đều được coi là các phần tử trong dự án  
và có thể được truy cập giống như các loại phần tử khác. Mỗi phần tử này đều  
có các thuộc tính. Việc soạn thảo các thuộc tính như điều kiện chuyển tiếp hay  
danh sách các hành động của bước được thực hiện trực tiếp ngay trên cửa sổ  
soạn thảo thuộc tính. Khi chọn một phần tử SFC (trong cấu trúc cây của dự  
án, trong cửa sổ thông báo lỗi, …) thì sơ đồ SFC tương ứng chứa phần tử đó sẽ  
được mở ra để soạn thảo.  
 
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
17  
Các tính năng chính trong soạn thảo biểu đồ SFC của phần mềm VET là:  
o Thao tác cơ bản là thao tác kéo – thả, giống như đa số các phần mềm vẽ  
biểu đồ, sơ đồ khác (ví dụ như Microsoft Visio).  
o Lựa chọn một hay nhiều phần tử SFC bằng cách chọn từng phần tử đồ  
họa hay chọn theo vùng.  
o Di chuyển một hay nhiều phần tử SFC bằng thao tác kéo chuột.  
o Nối dây giữa các phần tử bằng thao tác bấm – kéo – thả chuột. Tự động  
kiểm tra tính đúng đắn của các kết nối. Tự động bố trí các dây nối hợp lý.  
o Phóng to, thu nhỏ biểu đồ. Tự động dịch chuyển biểu đồ trong các thao  
tác kéo – thả.  
o Căn chỉnh theo lưới (grid).  
o Cung cấp thông tin chi tiết về một phần tử SFC bằng cửa sổ tooltip khi  
dừng chuột trên phần tử này (xem hình dưới).  
o Sao chép (copy) nội dung biểu đồ SFC dưới dạng hình ảnh vector vào  
clipboard hệ thống hoặc lưu lại dưới dạng tệp tin hình ảnh.  
Hình dưới là một màn hình soạn thảo biểu đồ SFC điển hình.  
Danh sách  
Màn hình chính  
soạn thảo SFC  
các phần tử  
SFC trong  
cây dự án  
Cửa sổ tooltip hiển thị  
thông tin tức thời  
3.2.5 Hỗ trợ các biểu thức logic điều kiện  
Các điều kiện chuyển tiếp trong biểu đồ SFC thông thường chỉ đơn giản là  
những biến logic đơn. Tuy nhiên có những trường hợp cần dùng đến các biểu  
thức logic phức tạp hơn với sự phối hợp của các phép toán logic, các phép toán  
so sánh, các biến và hằng. Phần mềm VET hỗ trợ tốt cho yêu cầu này bằng việc  
 
Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3  
18  
cho phép sử dụng các biểu thức logic phức tạp trong điều kiện chuyển tiếp. Các  
thành phần được chấp nhận trong biểu thức logic bao gồm:  
+ Các biến logic.  
+ Các hằng logic (TRUE và FALSE).  
+ Các phép toán logic (AND, OR và NOT).  
+ Các phép toán so sánh số học (>, <, =, >=, <=).  
+ Các biến số nguyên và thực.  
+ Các hằng số nguyên và thực (dạng mũ và không mũ).  
+ Dấu mở và đóng ngoặc ưu tiên.  
Phần mềm cũng hỗ trợ việc kiểm tra tính đúng đắn của các biểu thức logic. Nếu  
có lỗi xảy ra trong biểu thức logic, phần mềm sẽ thông báo trong cửa sổ các  
thông báo và cho phép người dùng truy cập nhanh đến vị trí có lỗi để sửa.  
3.2.6 Cơ chế kiểm tra lỗi và thông báo lỗi có tính tương tác cao  
Đối với các công cụ phát triển trực quan, các thông báo (message) đến người sử  
dụng có vai trò rất quan trọng. Vì là một công cụ lập trình nên các thông báo ở  
đây không thể đơn thuần chỉ là một vài dòng chữ miêu tả về lỗi mà phải cho  
phép người dùng có thể truy cập nhanh đến vị trí có lỗi. Ví dụ khi một biểu thức  
có lỗi, bên cạnh các thông tin mô tả lỗi, phần mềm phải cho phép người sử  
dụng có thể nhấn đúp chuột vào dòng thông báo để chuyển ngay tới biểu thức có  
lỗi đó. Phần mềm VET đã thực hiện được cơ chế này.  
Một trong những yêu cầu quan trọng đối với các công cụ lập trình trực quan là  
khả năng hạn chế lỗi ngay từ trong quá trình soạn thảo thay vì dồn hết việc  
kiểm tra lỗi vào giai đoạn cuối. Phần mềm VET thực hiện việc kiểm tra các lỗi  
thông thường ngay trong quá trình soạn thảo, đặc biệt là các lỗi về kiểu dữ liệu.  
Điều này giúp hạn chế tối đa khả năng mắc lỗi của người sử dụng.  
Phần mềm VET có thể tiến hành kiểm tra (một cách tự động hoặc theo yêu cầu  
của người dùng) tính chính xác và đúng đắn của toàn bộ dự án. Hầu hết các loại  
lỗi đều được kiểm tra, trong đó chủ yếu là các loại lỗi liên quan đến kiểu dữ  
liệu, sự phù hợp về kiểu và các lỗi cú pháp. Các lỗi phát hiện được sẽ được hiển  
thị trong cửa sổ các thông báo dưới dạng dòng thông báo bao gồm giải thích  
vắn tắt về lỗi và địa chỉ xảy ra lỗi. Để truy cập nhanh đến vị trí xảy ra lỗi, người  
sử dụng chỉ cần nhấn đúp chuột vào dòng thông báo lỗi tương ứng.  
Hình dưới đây diễn tả sự hoạt động của cơ chế thông báo lỗi trong phần mềm  
VET. Khi nhấn đúp chuột vào dòng thông báo lỗi (trong cửa sổ các thông báo)  
thì phần mềm sẽ tự động lựa chọn và cho phép soạn thảo biến vào/ra Start là vị  
trí có lỗi (trong cửa sổ soạn thảo thuộc tính).  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 21320 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bản thuyết minh Luận án Xây dựng gói phần mềm SFC cho điều khiển trình tự theo chuẩn IEC 61131-3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfban_thuyet_minh_luan_an_xay_dung_goi_phan_mem_sfc_cho_dieu_k.pdf