Bài giảng Xử lý tín hiệu số

BÀI GIẢNG  
Xử lý tín hiệu số  
(Tài liệu lưu hành nội bộ)  
MỤC LỤC  
Chương 1. Giới thiệu xử lý tín hiệu số ....................................................................1  
Chương 2. Tín hiệu và hệ thống rời rạc................................................................ 21  
Chương 3. Phân tích hệ rời rạc LTI dùng phép biến đổi Z..................................... 50  
Chương 4. Phân tích tín hiệu và hệ thống rời rạc LTI trong miền tần số ...............67  
Chương 5. Phép biến đổi Fourier rời rạc và ứng dụng.......................................... 88  
Chương I  
Chương  
1
GIỚI THIỆU XỬ LÝ TÍN HIỆU SỐ  
Chương này nêu tổng quát các vấn đề liên quan đến môn học. Nội dung chính chương này là:  
-
Giải thích các khái niệm như: “Tín hiệu”, “Tín hiệu số”, “Xử lý tín hiệu”, “Xử lý tín  
hiệu số”...  
-
-
-
-
-
-
Các khâu cơ bản trong hệ thống xử lý tín hiệu số  
Nêu một số ứng dụng của xử lý tín hiệu số  
So sánh xử lý tương tự và xử lý số  
Giải thích khái niệm “Tần số”  
Các bước cơ bản chuyển đổi tín hiệu từ tương tự sang số  
Các bước có bản chuyển đổi tín hiệu từ số sang tương tự  
1.1 TÍN HIỆU, HỆ THỐNG và XỬ LÝ TÍN HIỆU  
Để hiểu “Xử lý tín hiệu” là gì, ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của từng từ. Tín hiệu(signal) dùng để  
chỉ một đại lượng vật lý mang tin tức. Về mặt toán học, ta có thể mô tả tín hiệu như là một  
hàm theo biến thời gian, không gian hay các biến độc lập khác. Chẳng hạn như, hàm:  
x(t) = 20t2 mô tả tín hiệu biến thiên theo biến thời gian t. Hay một ví dụ khác, hàm:  
s(x, y) = 3x + 5xy + y2 mô tả tín hiệu là hàm theo hai biến độc lập x và y, trong đó x và y  
biểu diễn cho hai tọa độ không gian trong mặt phẳng.  
Hai tín hiệu trong ví dụ trên thuộc về lớp tín hiệu có thể được biểu diễn chính xác bằng hàm  
theo biến độc lập. Tuy nhiên, trong thực tế, các mối quan hệ giữa các đại lượng vật lý và các  
biến độc lập thường rất phức tạp nên không thể biểu diễn tín hiệu như trong hai ví dụ vừa nêu  
trên.  
Hình 1.1 Ví dụ tín hiệu tiếng nói  
Lấy ví dụ tín hiệu tiếng nói- đó là sự biến thiên của áp suất không khí theo thời gian. Chẳng  
hạn khi ta phát âm từ “away”, dạng sóng của từ đó được biểu diễn trên hình 1.1.  
Một ví dụ khác là tín hiệu điện tâm đồ (ECG)- cung cấp cho bác sĩ những tin tức về tình  
trạng tim của bệnh nhân, hay là tín hiệu điện não đồ (EEG) cung cấp tin tức về hoạt động của  
não.  
Các tín hiệu tiếng nói, ECG, EEG là các ví dụ về tín hiệu mang tin có thể biểu diễn là hàm  
theo biến thời gian. Thực tế có những tín hiệu là hàm theo nhiều biến độc lập. Ví dụ như tín  
- 1 -  
Chương I  
hiệu ảnh (image)- là sự thay đổi của cường độ ánh sáng theo không gian, có thể xem là hàm  
độ sáng theo hai biến không gian.  
Tất cả các tín hiệu đều do một nguồn nào đó tạo ra, theo một cách thức nào đó. Ví dụ tín hiệu  
tiếng nói được tạo ra bằng cách ép không khí đi qua dây thanh âm. Một bức ảnh có được  
bằng cách phơi sáng một tấm phim chụp một cảnh/ đối tượng nào đó. Quá trình tạo ra tín  
hiệu như vậy thường liên quan đến một hệ thống, hệ thống này đáp ứng lại một kích thích  
nào đó. Trong tín hiệu tiếng nói, hệ thống là hệ thống phát âm, gồm môi, răng, lưỡi, dây  
thanh... Kích thích liên quan đến hệ thống được gọi là nguồn tín hiệu (signal source). Như  
vậy ta có nguồn tiếng nói, nguồn ảnh và các nguồn tín hiệu khác.  
Có thể định nghĩa hệ thống (system) là một thiết bị vật lý thực hiện một tác động nào đó lên  
tín hiệu. Ví dụ, bộ lọc dùng để giảm nhiễu trong tín hiệu mang tin được gọi là một hệ thống.  
Khi ta truyền tín hiệu qua một hệ thống, như bộ lọc chẳng hạn, ta nói rằng ta đã xử lý tín hiệu  
đó. Trong trường hợp này, xử lý tín hiệu liên quan đến lọc nhiễu ra khỏi tín hiệu mong muốn.  
Như vậy, xử lý tín hiệu (signal processing) là ý muốn nói đến một loạt các công việc hay các  
phép toán được thực hiện trên tín hiệu nhằm đạt một mục đích nào đó, như là tách lấy tin tức  
chứa bên trong tín hiệu hoặc là truyền tín hiệu mang tin từ nơi này đến nơi khác.  
Ở đây ta cần lưu ý đến định nghĩa hệ thống, đó không chỉ đơn thuần là thiết bị vật lý mà còn  
là các phần mềm xử lý tín hiệu hoặc là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm.Ví dụ khi xử  
lý số tín hiệu bằng các mạch logic, hệ thống xử lý ở đây là phần cứng. Khi xử lý bằng máy  
tính số, tác động lên tín hiệu bao gồm một loạt các phép toán thực hiện bởi chương trình  
phần mềm. Khi xử lý bằng các bộ vi xử lý- hệ thống bao gồm kết hợp cả phần cứng và phần  
mềm, mỗi phần thực hiện các công việc riêng nào đó.  
1.2 PHÂN LOẠI TÍN HIỆU  
Các phương pháp ta sử dụng trong xử lý tín hiệu phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm của tín  
hiệu. Có những phương pháp riêng áp dụng cho một số loại tín hiệu nào đó. Do vậy, trước  
tiên ta cần xem qua cách phân loại tín hiệu liên quan đến những ứng dụng cụ thể.  
1.2.1 Tín hiệu nhiều hướng và tín hiệu nhiều kênh  
Như đã nói trong mục 1.1, tín hiệu có thể được mô tả là hàm theo một hoặc nhiều biến độc  
lập. Nếu tín hiệu là hàm theo một biến, ta gọi đó là các tín hiệu một hướng (one-dimention  
signal), như tín hiệu tiếng nói, ECG, EEG. Ngược lại ta gọi là tín hiệu nhiều hướng (multi-  
dimention signal), ví dụ như tín hiệu ảnh trắng đen, mỗi điểm ảnh là hàm theo 2 biến độc lập.  
y
I(x1,y1)  
y1  
x
x1  
Hình 1.2 Ví dụ tín hiệu ảnh màu (2 hướng- 3 kênh)  
- 2 -  
Chương I  
Trong một số ứng dụng, tín hiệu được tạo ra không phải từ một mà là nhiều nguồn hay nhiều  
bộ cảm biến. Các tín hiệu như vậy được gọi là tín hiệu đa kênh (multi-channel signal). Bức  
ảnh trên hình 1.2 là một ví dụ về tín hiệu 2 hướng, 3 kênh. Ta thấy độ sáng I(x,y) ở mỗi một  
điểm là hàm theo 2 biến không gian độc lập, độ sáng này lại phụ thuộc vào độ sáng của 3  
màu cơ bản red, green và blue. Một ví dụ khác, tín hiệu ảnh TV màu là tín hiệu 3 hướng- 3  
kênh, có thể biểu diễn bởi vector sau :  
⎡
⎢
⎤
⎥
⎥
Ir (x, y,t)  
I(x,y,t) = Ig (x,y,t)  
⎢
⎢
⎥
Ib (x, y,t)  
⎣
⎦
Trong giáo trình này, ta tập trung xét tín hiệu một hướng- một kênh, biến là biến thời gian  
(mặc dù thực tế không phải lúc nào biến cũng là biến thời gian)  
1.2.2 Tín hiệu liên tục và tín hiệu rời rạc  
Tín hiệu liên tục (continuous-time signal) hay còn gọi là tín hiệu tương tự là tín hiệu được  
xác định tại tất cả các giá trị thời gian. Về mặt toán học, có thể mô tả tín hiệu này là hàm của  
một biến liên tục, ví dụ tín hiệu tiếng nói.  
Tín hiệu rời rạc (discrete-time signal) chỉ được xác định tại một số thời điểm nào đó.  
Khoảng cách giữa các thời điểm này không nhất thiết phải bằng nhau, nhưng trong thực tế  
thường là lấy bằng nhau để dễ tính toán. Có thể tạo ra tín hiệu rời rạc từ tín hiệu liên tục bằng  
2 cách. Một là lấy mẫu tín hiệu liên tục, hai là đo hay đếm một đại lượng vật lý nào đó theo  
một chu kỳ nhất định, ví dụ cân em bé hàng tháng, đo áp suất không khí theo giờ...  
Tín hiệu x(tn ) = e− tn , n = 0,±1,±2,±3,... là một ví dụ về tín hiệu rời rạc. Ta có thể dùng  
biến nguyên n thay cho biến thời gian rời rạc tn. Lúc này, tín hiệu trở thành một hàm theo  
biến nguyên, về mặt toán ta có thể biểu diễn tín hiệu rời rạc là một dãy số (thực hoặc phức).  
Ta sử dụng ký hiệu x(n) thay cho x(tn), nghĩa là tn = nT với T là hằng số- khoảng cách giữa  
hai thời điểm rời rạc cạnh nhau. Hình 1.3 là một ví dụ về tín hiệu tiếng nói rời rạc.  
Hình 1.3 Ví dụ tín hiệu rời rạc  
1.2.3 Tín hiệu biên độ liên tục và tín hiệu biên độ rời rạc  
Biên độ của cả tín hiệu liên tục và rời rạc đều có thể liên tục hay rời rạc.  
Nếu tín hiệu có tất cả các giá trị trong một dải biên độ nào đó thì ta gọi đó là tín hiệu biên độ  
liên tục (continuous-valued signal). Ngược lại, nếu tín hiệu chỉ lấy một số giá trị nào đó (còn  
gọi là mức) trong một dải biên độ thì đó là tín hiệu biên độ rời rạc (discrete-valued signal).  
- 3 -  
Chương I  
Khoảng cách giữa các mức biên độ này có thể bằng nhau hay không bằng nhau. Thường thì  
ta biểu diễn các mức biên độ này bằng một số nguyên, đó là bội số của khoảng cách giữa hai  
mức biên độ cạnh nhau. Tín hiệu rời rạc theo cả thời gian và biên độ được gọi là tín hiệu số  
(digital signal). Hình 1.4 là một ví dụ về tín hiệu số.  
Hình 1.4 Ví dụ tín hiệu số với 6 mức biên độ khác nhau  
Để xử lý tín hiệu, trước hết phải thu lấy được tín hiệu. Ví dụ ta thu lấy tín hiệu âm thanh bằng  
microphone, chuyển đổi tín hiệu âm thanh sang tín hiệu điện. Hay như tín hiệu ảnh, ta có thể  
thu lấy bằng máy ảnh. Trong máy ảnh tương tự chẳng hạn, tín hiệu ánh sáng điều khiển các  
phản ứng hóa học trên một tấm phim ảnh. Về bản chất, các tín hiệu tự nhiên đều là tương tự,  
có số mức biên độ và số thời điểm đều là vô hạn. Do vậy, tín hiệu tương tự không phù hợp để  
xử lý bằng các hệ thống số. Để xử lý số, tín hiệu tương tự được lấy mẫu vào các thời điểm rời  
rạc, tạo thành tín hiệu rời rạc, sau đó lượng tử hóa biên độ của nó thành một tập các mức biên  
độ rời rạc. Quá trình lượng tử hóa (quantization) tín hiệu, về cơ bản là một quá trình xấp xỉ  
hóa. Nó có thể được thực hiện dễ dàng bằng cách làm tròn hay cắt gọt. Ví dụ tín hiệu có giá  
trị là 8.62 có thể được xấp xỉ hóa thành 8 (nếu lượng tử hóa bằng cách cắt gọt) hay là 9 (nếu  
lượng tử hóa bằng cách làm tròn)  
1.2.4 Tín hiệu xác định và tín hiệu ngẫu nhiên  
Quá trình phân tích toán học và xử lý tín hiệu yêu cầu phải mô tả được tín hiệu. Sự mô tả này  
liên quan đến một mô hình tín hiệu. Dựa vào mô hình tín hiệu, ta có một cách phân loại tín  
hiệu khác.  
Các tín hiệu có thể được mô tả duy nhất bằng một biểu diễn toán học rõ ràng như là đồ thị,  
bảng dữ liệu... được gọi là tín hiệu xác định (deterministic signal). Từ “xác định” ý muốn  
nhấn mạnh là ta biết rõ và chắc chắn các giá trị của tín hiệu trong quá khứ, hiện tại và tương  
lai.  
Tuy nhiên trong nhiều ứng dụng thực tế, có những tín hiệu không thể biểu diễn chính xác  
bằng các công thức toán học hay những mô tả toán như vậy là quá phức tạp. Ta không thể  
đoán trước sự biến thiên của các giá trị của loại tín hiệu này. Ta gọi đây là tín hiệu ngẫu  
nhiên (random signal). Ví dụ tín hiệu nhiễu là tín hiệu ngẫu nhiên.  
Ta cần lưu ý rằng việc phân loại tín hiệu thực thành xác định hay ngẫu nhiên không phải lúc  
nào cũng rõ ràng. Đôi khi, xem tín hiệu là xác định hay ngẫu nhiên đều dẫn đến những kết  
quả có ý nghĩa. Nhưng đôi khi, việc phân loại sai sẽ dẫn đến kết quả bị lỗi, bởi vì có những  
công cụ toán chỉ có thể áp dụng cho tín hiệu xác định, trong khi các công cụ khác lại chỉ áp  
dụng cho tín hiệu ngẫu nhiên. Điều này sẽ trở nên rõ ràng hơn khi ta kiểm tra các công cụ  
toán cụ thể.  
1.3 HỆ THỐNG XỬ LÝ TÍN HIỆU  
1.3.1 Các khâu cơ bản trong một hệ thống xử lý số tín hiệu  
Như đã nói trên, hầu hết các tín hiệu bắt gặp trong khoa học và kỹ thuật đều là tương tự. Có  
thể xử lý trực tiếp các tín hiệu đó bằng một hệ thống tương tự thích hợp. Trong trường hợp  
- 4 -  
Chương I  
này, ta nói tín hiệu được xử lý trực tiếp ở dạng tương tự, như minh họa trên hình 1.5. Cả tín  
hiệu vào và ra đều là tín hiệu tương tự.  
T/h tương  
tự vào  
T/h tương  
tự ra  
Bộ xử lý tín  
hiệu tương tự  
Hình 1.5 Xử lý tín hiệu tương tự  
Xử lý số là một phương pháp khác để xử lý tín hiệu tương tự, như minh họa trên hình 1.6.  
Tín hiệu tương tự phải được chuyển đổi thành dạng số (A/D) trước khi xử lý. Điều không  
may là quá trình chuyển đổi tương tự/ số này không bao giờ hoàn hảo, nghĩa là tín hiệu số  
không phải là biểu diễn chính xác cho tín hiệu tương tự ban đầu. Khi tín hiệu tương tự được  
chuyển thành tín hiệu số gần đúng nhất, quá trình xử lý sẽ được thực hiện bằng một bộ xử lý  
tín hiệu số DSP (Digital Signal Processor), tạo ra một tín hiệu số mới. Trong hầu hết các ứng  
dụng, tín hiệu số cần được chuyển đổi ngược lại thành tín hiệu tương tự (D/A) ở cuối quá  
trình xử lý. Tuy nhiên, cũng có những ứng dụng liên quan đến phân tích tín hiệu, trong đó  
không cần chuyển đổi D/A. Hình 1.6 là sơ đồ khối một hệ thống xử lý tín hiệu bằng phương  
pháp số. Bộ xử lý tín hiệu số DSP có thể là một mạch logic, một máy tính số hoặc là một bộ  
vi xử lý lập trình được.  
T/h tương  
tự vào  
Bộ chuyển  
đổi A/D  
Bộ xử lý tín  
hiệu số DSP  
Bộ chuyển  
đổi D/A  
T/h tương  
tự ra  
T/h số vào  
T/h số ra  
Hình 1.6 Xử lý số tín hiệu  
1.3.2 Ưu điểm của xử lý số so với xử lý tương tự  
Có nhiều nguyên nhân khác nhau khiến cho xử lý số được ưa chuộng hơn là xử lý trực tiếp  
tín hiệu tương tự. Trước tiên, hệ thống số có thể lập trình được, tạo ta tính mềm dẻo trong  
việc cấu hình lại các hoạt động xử lý bằng cách đơn giản là thay đổi chương trình, trong khi  
đó để cấu hình lại hệ tương tự, ta phải thiết kế lại phần cứng, rồi kiểm tra và thẩm định xem  
các hoạt động đó có đúng không.  
Độ chính xác cũng đóng một vai trò qua trọng trong việc lựa chọn bộ xử lý tín hiệu. Độ sai  
lệch của các linh kiện tương tự khiến cho các nhà thiết kế hệ thống vô cùng khó khăn trong  
việc điều khiển độ chính xác của hệ thống tương tự. Trong khi đó, việc điều khiển độ chính  
xác của hệ thống số lại rất dễ dàng, chỉ cần ta xác định rõ yêu cầu về độ chính xác rồi quyết  
định lựa chọn các bộ chuyển đổi A/D và DSP có độ dài từ thích hợp, có kiểu định dạng dấu  
phẩy tĩnh hay dấu phẩy động.  
Tín hiệu số dễ dàng lưu trữ trên các thiết bị băng đĩa từ mà không bị mất mát hay giảm chất  
lượng. Như vậy tín hiệu số có thể truyền đi xa và có thể được xử lý từ xa. Phương pháp xử lý  
số cũng cho phép thực hiện các thuật toán xử lý tín hiệu tinh vi phức tạp hơn nhiều so với xử  
lý tương tự, nhờ việc xử lý được thực hiện bằng phần mềm trên các máy tính số.  
Trong một vài trường hợp, xử lý số rẻ hơn xử lý tương tự. Giá thành thấp hơn là do các phần  
cứng số rẻ hơn, hoặc là do tính mềm dẻo trong xử lý số.  
Tuy nhiên, xử lý số cũng có một vài hạn chế. Trước tiên là sự hạn chế về tốc độ hoạt động  
của các bộ chuyển đổi A/D và bộ xử lý số DSP. Sau này ta sẽ thấy những tín hiệu băng thông  
- 5 -  
Chương I  
cực lớn yêu cầu tốc độ lấy mẫu của bộ A/D cực nhanh và tốc độ xử lý của DSP cũng phải  
cực nhanh. Vì vậy, phương pháp xử lý số chưa áp dụng được cho các tín hiệu tương tự băng  
thông lớn.  
Nhờ sự phát triển nhanh chóng của công nghệ máy tính và công nghệ sản xuất vi mạch mà  
lĩnh vực xử lý tín hiệu số (DSP) phát triển rất mạnh trong vài thập niên gần đây. Ứng dụng  
của DSP ngày càng nhiều trong khoa học và công nghệ. DSP đóng vai trò quan trọng trong  
sự phát triển của các lĩnh vực như viễn thông, đa phương tiện, y học, xử lý ảnh và tương tác  
người-máy...  
Để thấy rõ ảnh hưởng to lớn của xử lý tín hiệu số, ta xem ví dụ về sự phát triển của máy ảnh,  
từ máy ảnh tương tự truyền thống đến máy ảnh số ngày nay. Máy ảnh truyền thống hoạt động  
dựa trên các đặc điểm vật lý của thấu kính quang học, trong đó chất lượng bức ảnh càng đẹp  
khi hệ thống thấu kính càng to và rộng. Khi máy ảnh số mới ra đời với thấu kính nhỏ hơn thì  
chất lượng ảnh chụp thấp hơn nhiều so với tương tự. Tuy nhiên, khi năng lực xử lý của các  
bộ vi xử lý mạnh hơn và các thuật toán xử lý tín hiệu số tinh vi hơn được áp dụng thì các  
nhược điểm về quang học được khắc phục và chất lượng ảnh được cải thiện rõ rệt. Hiện nay,  
các máy ảnh số cho chất lượng ảnh vượt trội hơn so với tương tự. Hơn nữa, các máy ảnh số  
cài trong điện thoại di động hiện nay có thấu kính rất nhỏ nhưng vẫn có thể cho chất lượng  
ảnh rất tốt. Chất lượng ảnh ở đây phụ thuộc vào năng lực của DSP chứ không phải phụ thuộc  
vào kích thước của thấu kính quang học. Nói cách khác, công nghệ máy ảnh số đã sử dụng  
năng lực tính toán của DSP để khắc phục các hạn chế về vật lý.  
Tóm lại, DSP là một lĩnh vực dựa trên nguyên ý của toán học, vật lý và khoa học máy tính và  
có những ứng dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau.  
1.4 KHÁI NIỆM TẦN SỐ TRONG TÍN HIỆU LIÊN TỤC VÀ TÍN HIỆU RỜI RẠC  
Từ vật lý chúng ta biết rằng tần số liên quan chặt chẽ với kiểu chuyển động có chu kỳ gọi là  
dao động và được mô tả bằng hàm sin. Khái niệm tần số liên quan trực tiếp đến khái niệm  
thời gian. Thực tế thì tần số có thứ nguyên là đảo ngược của thời gian. Do vậy bản chất của  
thời gian (liên tục hoặc rời rạc) sẽ có ảnh hưởng đến bản chất của tần số.  
1.4.1 Tín hiệu sin liên tục  
Một dao động điều hòa đơn giản được mô tả toán học bằng hàm sin liên tục sau:  
xa (t) = Acos(Ωt+θ), -∞<t<∞  
Tín hiệu này được xác định bởi 3 thông số: A là biên độ, Ω là tần số góc tính bằng radian trên  
giây (rad/s) và θ là góc pha tính bằng radian (rad) (hình 1.7). Thay vì dùng Ω, ta có thể dùng  
F tính bằng số chu kỳ trên giây hay hertz (Hz), ở đây: Ω = 2πF . Vậy ta có thể viết lại:  
xa (t) = Acos(2πFt+θ), -∞<t<∞  
xa(t)  
Tp = 1/F  
Acosθ  
t
-A  
Hình 1.7 Tín hiệu sin liên tục  
- 6 -  
Chương I  
Tín hiệu sin liên tục ở trên có các đặc điểm sau đây:  
1. Với F cố định, tín hiệu sin liên tục xa(t) tuần hoàn với chu kỳ cơ bản là Tp = 1/F,  
nghĩa là ta luôn luôn có:  
xa (t + Tp ) = xa (t), − ∞ < t < ∞  
2. Các tín hiệu sin liên tục có tần số khác nhau thì khác nhau.  
3. Việc tăng tần số sẽ dẫn đến tăng tốc độ của dao động của tín hiệu, tức là tăng số chu  
kỳ dao động trong một khoảng thời gian cho trước. Vì thời gian t liên tục nên ta có  
thể tăng F đến vô cùng.  
Ta cũng có thể biểu diễn tín hiệu sin liên tục ở một dạng khác, thường được gọi là phasor như  
sau:  
A
A
xa (t) = Acos(Ωt+θ)= ej(Ωt+θ ) + e− j(Ωt+θ )  
2
2
Theo cách biểu diễn phasor, có thể xem tín hiệu sin liên tục là tổng của 2 tín hiệu điều hòa  
hàm mũ phức có biên độ bằng nhau và liên hợp phức với nhau, tần số góc ở đây là ±Ω: tần số  
dương và âm. Để thuận tiện về mặt toán, ta sử dụng cả khái niệm tần số dương và âm. Vậy  
dải tần số của tín hiệu liên tục là −∞ < F < ∞ .  
1.4.2 Tín hiệu sin rời rạc  
Tín hiệu sin rời rạc được biểu diễn như sau:  
x(n) = Acos(ωn+θ), -∞<n<∞  
ở đây n là biến nguyên gọi là số mẫu, A là biên độ, ω là tần số góc tính bằng radian trên mẫu  
(rad/mẫu) và θ là góc pha tính bằng radian (rad).  
Thay vì dùng ω, ta có thể dùng tần số f với quan hệ: ω = 2πf . Ta viết lại x(n) như sau:  
x(n) = Acos(2πfn+θ), -∞<n<∞  
Tần số f có thứ nguyên là chu kỳ trên mẫu (chu kỳ/mẫu). Tạm thời bây giờ chúng ta chưa xét  
đến mối quan hệ giữa F và f, ta xem như tín hiệu sin rời rạc là độc lập với tín hiệu sin liên  
tục. Hình 1.8 là biểu diễn tín hiệu sin rời rạc với ω = π /6 (rad/mẫu) và pha θ = π /3(rad).  
1
0.8  
0.6  
0.4  
0.2  
0
-0.2  
-0.4  
-0.6  
-0.8  
-1  
-10  
-5  
0
5
10  
15  
Hình 1.8 Tín hiệu sin rời rạc  
Khác với tín hiệu sin liên tục, tín hiệu sin rời rạc có các đặc điểm sau đây:  
1. Tín hiệu sin rời rạc tuần hoàn khi và chỉ khi tần số f là một số hữu tỷ.  
Từ định nghĩa, tín hiệu rời rạc x(n) tuần hoàn với chu kỳ N (N>0) khi và chỉ khi  
- 7 -  
Chương I  
x(n + N) = x(n) ∀n  
Giá trị N nhỏ nhất được gọi là chu kỳ cơ bản.  
Giả sử tín hiệu sin rời rạc tần số f0 tuần hoàn, ta có:  
cos[2πf0 (n+N)+θ]=cos(2πf0n+θ)  
Quan hệ này chỉ đúng khi tồn tại một số nguyên k sao cho:  
k
2πf0N = 2kπ ⇔ f0 =  
N
Theo đây, ta thấy tín hiệu sin rời rạc chỉ tuần hoàn khi f0 có thể biểu diễn dưới dạng tỷ  
của hai số nguyên, nghĩa là f0 là một số hữu tỷ.  
Để xác định chu kỳ cơ bản của tín hiệu sin rời rạc, ta biểu diễn f0 dưới dạng tỷ của hai số  
nguyên k/N, sau đó đưa k/N về dạng phân số tối giản. Lúc đó mẫu số của phân số tối giản  
chính là chu kỳ cơ bản. Ví dụ f1 = 31/50, nghĩa là N1 = 50 hay N2 = 25/50 = 1/2 nghĩa là  
N2 = 2.  
2. Các tín hiệu sin rời rạc có tần số khác nhau một bội số nguyên lần 2π thì trùng nhau.  
Ta xét tín hiệu sin rời rạc x(n) = cos(ω0n+θ) . Dễ dàng nhận thấy rằng:  
x(n) = cos[(ω0 +2π )n+θ]=cos(ω0n+2πn+θ)=cos(ω0n+θ)  
Vậy tất cả các tín hiệu sin rời rạc có dạng:  
xk (n) = cos(ωkn+θ), k = 0,1,2,...  
với  
ωk = ω0 + 2kπ, −π ≤ ω0 ≤ π  
đều trùng nhau. Nói cách khác, các tín hiệu sin rời rạc có tần số nằm trong dải  
1
−π ≤ ω ≤ π hay − 12 ≤ f ≤ thì mới khác biệt nhau. Vì lý do đó nên ta gọi những tín  
2
hiệu sin rời rạc có tần số nằm ngoài dải [-π,π ] là phiên bản (alias) của những tín hiệu  
rời rạc có tần số nằm trong dải [-π,π ] tương ứng. Dải tần −π ≤ ω ≤ π được gọi là dải cơ  
bản. Nói rộng hơn, dải cơ bản là dải tần số có bề rộng là 2π. Như vậy, dải cơ bản cũng có  
thể là dải 0 ≤ ω ≤ 2π , π ≤ ω ≤ 3π ... Nhưng thực tế thường chọn dải cơ bản là:  
−π ≤ ω ≤ π hay là 0 ≤ ω ≤ 2π  
3. Tốc độ cao nhất của tín hiệu sin rời rạc đạt được khi ω = π hay ω = −π , tương  
1
đương với f = hay f = − 12  
2
Ta có thể thấy rõ điều này qua ví dụ minh họa với tín hiệu x(n) = cosω0n . Lần lượt cho  
π π π  
ω0 = 0, , , ,π ta có chu kỳ tương ứng là N = ∞,16,8,4,2. Ta thấy chu kỳ giảm khi  
8 4 2  
tần số tăng, tức là tốc độ dao động của tín hiệu tăng.  
1.4.3 Tín hiệu điều hòa hàm mũ phức  
Cũng như tín hiệu sin điều hòa, tín hiệu điều hòa hàm mũ phức đóng một vai trò quan trọng  
trong phân tích tín hiệu và hệ thống. Trong phần này chúng ta xét tín hiệu điều hòa hàm mũ  
phức trong cả miền thời gian liên tục và rời rạc.  
- 8 -  
Chương I  
1. Tín hiệu điều hòa hàm mũ phức liên tục  
Xét tín hiệu sau:  
sk (t) = ejkΩ t = ejk2πF t k = 0,±1,±2...  
0
0
Lưu ý rằng với mỗi k, tín hiệu sk(t) tuần hoàn với chu kỳ cơ bản là 1/(kF0) = Tp/k và chu kỳ  
chung là Tp. Khi k khác nhau thì tín hiệu sk (t) cũng khác nhau.  
Từ sk (t), ta có thể tổ hợp tuyến tính các tín hiệu sk(t) lại với nhau để tạo thành một tín hiệu  
tuần hoàn xa(t) với chu kỳ cơ bản là Tp = 1/F0 như sau:  
∞
∞
c ejkΩ t  
0
x (t) =  
c s (t) =  
∑
∑
a
k
k
k
k=−∞  
k=−∞  
Biểu diễn này được gọi là khai triển Fourier của xa (t), các hằng số phức ck là các hệ số  
Fourier và sk(t) là các hài bậc k của xa(t)  
2. Tín hiệu điều hòa hàm mũ phức rời rạc  
Vì tín hiệu sin rời rạc chỉ tuần hoàn khi tần số là một số hữu tỷ nên ta chọn f0 = 1/N và định  
nghĩa tín hiệu điều hòa hàm mũ phức rời rạc là:  
sk (n) = ejk2πf n = ejk2πn / N k = 0,±1,±2...  
0
Khác với tín hiệu liên tục, ở đây ta thấy:  
sk+N (n) = ej2π(k+N)n / N = ej2πnsk (n) = sk (n)  
Điều này nghĩa là khi chọn k sai khác nhau một bội số nguyên của N thì sk(n) sẽ trùng nhau,  
do đó ta chỉ cần xét với k = n0 đến k = n0 + N -1. Để cho tiện, ta thường chọn n0 = 0. Vậy ta  
có:  
sk (n) = ejk2πf n = ejk2πn / N k = 0,1,2,..., N −1  
0
Theo đó, tín hiệu s(n) tuần hoàn với chu kỳ cơ bản N có thể khai triển thành chuỗi Fourier  
như sau:  
N−1  
N−1  
x(n) = c s (n) = c ej2πkn / N  
∑
∑
k
k
k
k=0  
k=0  
ở đây ck là hệ số Fourier và sk (n) là hài bậc k của x(n).  
1.5 BIẾN ĐỔI TƯƠNG TỰ - SỐ (A/D)  
Hầu hết các tín hiệu thực tế như tiếng nói, tín hiệu sinh học, tín hiệu địa chấn, radar, sonar,  
tín hiệu thông tin như audio, video... đều là tín hiệu tương tự. Để xử lý tín hiệu tương tự bằng  
phương pháp số, trước hết phải chuyển tín hiệu tương tự sang dạng số. Quá trình này gọi là  
biến đổi A/D.  
Quá trình A/D về cơ bản gồm 3 bước như minh họa trong hình 1.9.  
T/h tương  
tự xa(t)  
T/h số  
010011...  
Lấy mẫu  
Lượng tử hóa  
Mã hóa  
T/h rời rạc x(n)  
T/h lượng tử xq(n)  
- 9 -  
Chương I  
Hình 1.9 Bộ chuyển đổi A/D cơ bản  
1. Lấy mẫu (sampling) là quá trình chuyển đổi tín hiệu từ liên tục thành rời rạc bằng  
cách lấy từng mẫu (sample) của tín hiệu liên tục tại các thời điểm rời rạc. Vậy nếu tín  
hiệu xa(t) được đưa vào bộ lấy mẫu thì đầu ra là xa(nT) ≡ x(n) với T là chu kỳ lấy  
mẫu. Sau lấy mẫu, tín hiệu liên tục trở thành dãy các giá trị rời rạc và có thể lưu trữ  
trong bộ nhớ máy tính để xử lý. Thực tế thì giá trị của tín hiệu tại các thời điểm lấy  
mẫu thường được duy trì cho đến mẫu tiếp theo. Do đó quá trình lấy mẫu còn được  
gọi là lấy mẫu và giữ mẫu (sample and hold). Có thể nói quá trình lấy mẫu này là cầu  
nối giữa thế giới tương tự và thế giới số.  
2. Lượng tử hóa (quantization) là quá trình chuyển đổi tín hiệu rời rạc có biên độ liên  
tục thành tín hiệu rời rạc có biên độ rời rạc (còn gọi là tín hiệu số). Mỗi mẫu tín hiệu  
được biểu diễn bằng một giá trị chọn từ trong tập hữu hạn các giá trị có thể có. Sự  
khác nhau giữa giá trị của mẫu chưa lượng tử hóa x(n) và giá trị của mẫu đã lượng tử  
hóa xq(n) gọi là sai số lượng tử hóa (quantization error). Nếu bỏ qua sai số này thì  
thuật ngữ tín hiệu rời rạc và tín hiệu số có thể sử dụng thay thế cho nhau.  
3. Số hóa (digitization) là quá trình biểu diễn mỗi giá trị rời rạc xq(n) bằng một dãy số  
nhị phân b bit.  
Hình 1.10 minh họa quá trình biến đổi A/D qua một ví dụ cụ thể.  
Hình 1.10 Biến đổi A/D 3 bit  
Trong phần này, ta sẽ xét chi tiết quá trình chuyển đổi A/D, gồm lấy mẫu, lượng tử hóa và  
mã hóa. Nếu băng thông của tín hiệu tương tự là hữu hạn và tần số lấy mẫu đủ lớn thì việc  
lấy mẫu sẽ không làm mất mát tín tức và không làm méo tín hiệu. Trong khi đó, lượng tử hóa  
là quá trình xấp xỉ hóa nên sẽ gây méo tín hiệu. Độ méo này phụ thuộc vào số bit b. Số bit  
tăng sẽ làm giảm méo nhưng dẫn đến giá thành tăng.  
1.5.1 Lấy mẫu tín hiệu tương tự  
Như đã giới thiệu ở trên, quá trình lấy mẫu được mô tả bởi quan hệ sau:  
- 10 -  
Chương I  
x(n) ≡ xa(nT)  
ở đây x(n) là tín hiệu rời rạc có được bằng cách lấy mẫu tín hiệu tương tự xa(t) vào các thời  
điểm cách nhau T giây. Khoảng thời gian T giữa các mẫu cạnh nhau gọi là chu kỳ lấy mẫu và  
Fs = 1/T gọi là tốc độ lấy mẫu (mẫu/s) hay tần số lấy mẫu (Hz).  
Từ đây suy ra mối quan hệ giữa biến thời gian liên tục t và biến thời gian rời rạc n như sau:  
n
t = nT =  
F
s
Như vậy cũng sẽ tồn tại một quan hệ giữa biến tần số F (hay Ω) của tín hiệu liên tục và biến  
tần số f (hay ω) của tín hiệu rời rạc. Để thiết lập mối quan hệ này, ta xét tín hiệu sin liên tục  
sau:  
xa (t) = Acos(2πFt+θ)  
Lấy mẫu tín hiệu này với tần số Fs = 1/T (mẫu/s), ta được tín hiệu rời rạc sau:  
⎛
⎜
⎝
⎞
⎟
⎠
2πnF  
x (nT) ≡ x(n) = Acos(2πFnT+θ)=Acos  
+ θ  
a
F
s
So sánh tín hiệu này với tín hiệu sin rời rạc đã xét trong (1.4.2), ta được quan hệ giữa F và f  
là quan hệ tuyến tính như sau:  
F
f =  
F
s
Điều này tương đương với:  
ω = ΩT  
Tần số f còn được gọi là tần số chuẩn hóa (normalized frequency) hay tần số số. Ta có thể sử  
dụng tần số f để tính tần số F (Hz) nếu biết tần số lấy mẫu.  
Kết hợp các dải biến thiên của tần số F (hay Ω) và f (hay ω) với quan hệ vừa tìm ra, ta có  
bảng tóm tắt 1.1 sau:  
Tín hiệu liên tục  
Ω = 2πF  
Tín hiệu rời rạc  
ω = 2πf  
[rad/s]  
[Hz]  
[rad/mẫu]  
[chu kỳ/mẫu]  
−∞ < Ω < ∞  
−∞ < F < ∞  
ω = ΩT, f = F/ F  
s
−π ≤ ω ≤ π  
−1/ 2 ≤ f ≤1/ 2  
Ω = ω/T, F = f.F  
s
−π/T ≤ Ω ≤ π/T  
−F / 2 ≤ F ≤ F / 2  
s
s
Bảng 1.1 Quan hệ giữa các biến tần số  
- 11 -  
Chương I  
Từ quan hệ trên, ta thấy điểm khác biệt chính giữa tín hiệu liên tục và tín hiệu rời rạc là dải  
biến thiên của tần số F và f (hay Ω và ω). Việc lấy mẫu một tín hiệu liên tục chính là sắp xếp  
dải tần số vô hạn của biến F (hay Ω) vào dải tần số hữu hạn của biến f (hay ω). Vì tần số cao  
nhất của tín hiệu rời rạc là f = ½ (hay ω = π) nên với tần số lấy mẫu là Fs, tần số tương ứng  
cao nhất của F và Ω là:  
F
1
s
Fmax  
=
=
2
2T  
π
T
Ωmax = πF =  
s
Như vậy, tần số cao nhất của tín hiệu liên tục khi lấy mẫu với tần số Fs là Fmax = Fs /2. Khi  
tần số của tín hiệu liên tục lớn hơn tần số Fs /2 thì sẽ xảy ra sự mập mờ (ambiguity)hay còn  
gọi là chồng phổ (aliasing). Ta có thể thấy rõ điều này qua ví dụ minh họa sau:  
Cho 2 tín hiệu sin khác nhau có tần số lần lượt là 10 Hz và 50 Hz :  
x1(t) = cos2π(10)t  
x2 (t) = cos2π(50)t  
Lấy mẫu 2 tín hiệu này với tần số Fs = 40Hz, tín hiệu rời rạc là :  
10  
40  
50  
40  
π
n = cos n  
2
⎛
⎝
⎞
⎠
x1(n) = cos2π  
⎜
⎟
5π  
n = cos  
2
⎛
⎞
x2 (n) = cos2π  
n
⎜
⎝
⎟
⎠
Nhận xét thấy x2 (n) = x1 (n). Như vậy, 2 tín hiệu sin rời rạc này không phân biệt được với  
nhau. Ta nói tần số 50 Hz là phiên bản của tần số 10 Hz tại tần số lấy mẫu là 40 Hz.  
Ta có thể suy ra tổng quát là tần số (F0 + kFs) (Hz) là phiên bản của tần số F0 (Hz) tại tần số  
lấy mẫu là Fs (Hz).  
Từ ví dụ trên, ta có thể dễ dàng thấy tần số cao nhất để không xảy ra sự chồng phổ là 20 Hz.  
Đây chính là Fs /2 tương ứng với ω = π. Tần số Fs /2 còn được gọi là tần số gập (folding  
frequency), vì để xác định tần số phiên bản (lớn hơn Fs / 2), ta có thể chọn Fs / 2 làm điểm  
chốt rồi gập (hay phản xạ) tần số phiên bản vào dải cơ sở [0, Fs /2].  
Ví dụ 1.1  
Cho tín hiệu tương tự:  
xa (t) = 3cos100πt  
(a) Xác định tần số lấy mẫu nhỏ nhất để tránh chồng phổ  
(b) Giả sử tín hiệu trên được lấy mẫu với tần số Fs = 200 Hz, tín hiệu rời rạc sau lấy mẫu  
là gì ?  
(c) Giả sử tín hiệu trên được lấy mẫu với tần số Fs = 75 Hz, tín hiệu rời rạc sau lấy mẫu  
là gì ?  
(d) Xác định tần số (0 < F < Fs) của tín hiệu sin mà có các mẫu trùng với các mẫu của  
tín hiệu (c)  
- 12 -  
Chương I  
1.5.2 Định lý lấy mẫu  
Cho một tín hiệu tương tự, ta chọn tần số lấy mẫu như thế nào ? Để trả lời câu hỏi này, ta  
phải có một số thông tin chi tiết về các đặc điểm của tín hiệu được lấy mẫu, bao gồm biên độ,  
tần số và pha của các thành phần tần số khác nhau. Tuy nhiên, những thông tin như vậy thì ta  
lại không được biết trước. Ta chỉ có thể biết được tần số lớn nhất của một lớp tín hiệu nào đó  
(như là lớp tín hiệu tiếng nói, lớp tín hiệu video...). Dựa vào tần số lớn nhất này, ta có thể xác  
định được tần số lấy mẫu cần thiết để chuyển tín hiệu từ tương tự sang số.  
Vì tần số lớn nhất này có thể thay đổi chút ít trong các tín hiệu cùng lớp (ví dụ tiếng nói của  
những người nói khác nhau thì có tần số lớn nhất khác nhau) nên để đảm bảo tần số lớn nhất  
không vượt quá Fs /2 (để tránh chồng phổ) thì trước khi lấy mẫu tín hiệu, ta cho nó đi qua  
một bộ lọc, lọc bỏ các tần số trên Fs/2. Bộ lọc này được gọi là lọc chống chồng phổ (anti-  
aliasing filter)  
Từ tần số Fmax đã biết, ta có thể chọn tần số lấy mẫu tương ứng Fs > 2Fmax  
Với tần số lấy mẫu như thế này, tất cả các thành phần tần số của tín hiệu tương tự được biểu  
diễn dưới dạng các mẫu mà không bị chồng phổ, và do vậy, ta có thể khôi phục lại tín hiệu  
tương tự từ các mẫu rời rạc mà không bị méo bằng cách sử dụng một phương pháp nội suy  
thích hợp. Công thức nội suy được trình bày trong định lý lấy mẫu như sau :  
Nếu tần số cao nhất trong tín hiệu liên tục xa(t) là Fmax và tín hiệu được lấy mẫu với tần số  
Fs>2Fmax thì có thể khôi phục chính xác xa(t) từ các mẫu rời rạc xa(nT) bằng cách sử dụng  
công thức nội suy sau :  
- 13 -  
Chương I  
∞
sin 2πFmax (t − nT)  
2πFmax (t − nT)  
x (t) =  
x (nT)  
a
∑
a
n=−∞  
Tần số lấy mẫu Fs = 2Fmax được gọi là tần số Nyquist (do Nyquist tìm ra năm 1928)- là tần số  
lấy mẫu nhỏ nhất để tránh chồng phổ.  
Chứng minh (xem SGK)  
Ví dụ 1.2  
Cho tín hiệu tương tự :  
xa (t) = 3cos50πt+10sin300πt-cos100πt  
Xác định tần số Nyquist.  
Ví dụ 1.3  
Cho tín hiệu tương tự :  
xa (t) = 3cos2000πt+5sin6000πt+10cos12000πt  
(a) Xác định tần số Nyquist  
(b) Giả sử tín hiệu được lấy mẫu với tốc độ 5000 (mẫu/s), tìm tín hiệu rời rạc có được  
sau lấy mẫu  
(c) Xác định tín hiệu tương tự ya(t) khôi phục từ tín hiệu rời rạc (giả sử nội suy lý tưởng)  
- 14 -  
Chương I  
1.5.3 Quan hệ giữa phổ của tín hiệu rời rạc và phổ của tín hiệu liên tục  
Lấy mẫu tín hiệu tương tự xa(t), về mặt toán học chính là:  
xs (t) = xa (t).s(t)  
Trong đó xs(t) là tín hiệu sau lấy mẫu, s(t) là dãy xung vuông tuần hoàn chiều cao h, độ rộng  
xung là τ, chu kỳ là T và có τ→0, hτ→1. Khai triển Fourier cho dãy s(t) trên rồi lấy giới hạn,  
ta được :  
τ
T
sin kπ  
2π  
T
2π  
T
∞
∞
jk  
t
t
ejk  
hτ  
T
1
s(t) = lim  
τ→0  
e
=
∑
∑
τ
Tk=−∞  
k=−∞  
hτ→1  
kπ  
T
Vậy có thể biểu diễn tín hiệu rời rạc dưới dạng sau :  
2π  
T
∞
t
ejk  
1
x (t) = x (t)  
∑
s
a
T
k=−∞  
Từ đây ta tìm được phổ của tín hiệu rời rạc theo công thức biến đổi Fourier như sau :  
∞
∞
2π  
T
∞
xa (t)e− j(Ω−k )tdt  
1
Xs (Ω) = xs (t)e− jΩtdt =  
∑
∫
∫
T k=−∞  
−∞  
k=−∞  
∞
∞
1
2π  
T
1
⎛
⎝
⎞
=
X Ω − k  
=
X Ω − kF  
(
)
∑
∑
a
⎜
⎟
⎠
a
s
T k=−∞  
T k=−∞  
Từ đây ta có kết luận: phổ của tín hiệu rời rạc là xếp chồng tuần hoàn của phổ của tín hiệu  
liên tục với chu kỳ là Fs.  
Như vậy việc lấy mẫu tín hiệu liên tục tạo ra một dãy mẫu rời rạc trong miền thời gian và  
đồng thời cũng có ảnh hưởng trong miền tần số nữa. Hình vẽ 1.11a là phổ 2 phía của tín hiệu  
gốc chưa lấy mẫu và hình vẽ 1.11b là phổ của tín hiệu rời rạc được lấy mẫu với 3 tần số lấy  
mẫu khác nhau, ở đây W là băng thông của tín hiệu tương tự- cũng chính là tần số cao nhất  
Fmax  
Qua đây ta thấy các phổ của tín hiệu rời rạc khác nhau khi lấy mẫu với các tần số khác nhau.  
Nếu lấy mẫu với tần số trên tần số Nyquist F ≥ 2Fmax = 2W thì các bản copy của phổ gốc  
s
(gọi là ảnh phổ) không bị chồng lên nhau. Lúc này ta có thể khôi phục lại tín hiệu gốc ban  
đầu từ tín hiệu rời rạc bằng cách cho tín hiệu rời rạc đi qua bộ lọc thông thấp tần số cắt là  
F
max = W. Bộ lọc này được gọi là bộ lọc khôi phục hay bộ lọc ảnh phổ (anti-imaging filter).  
Nếu lấy mẫu với tần số thấp hơn tần số Nyquist thì các ảnh phổ sẽ bị chồng lên nhau, phổ  
tổng là đường nét đứt trên hình 1.11b(iii), lúc này ta không thể khôi phục lại tín hiệu gốc ban  
đầu.  
Khi tín hiệu là thông dải ( W < F < W2 ), ta không cần lấy mẫu với tần số gấp đôi tần số lớn  
1
nhất. Thay vào đó, tần số lấy mẫu phụ thuộc vào băng thông của tín hiệu W2 – W1 cũng như  
- 15 -  
Chương I  
Hçnh 1.11 Phổ của tín hiệu gốc và tín hiệu rời rạc  
Hình 1.11 Phổ của tín hiệu liên tục và tín hiệu rời rạc  
vị trí của phổ trên trục tần số. Tần số lấy mẫu ít nhất là gấp đôi băng thông của tín hiệu. Điều  
quan trọng ở đây là phải chọn tần số lấy mẫu sao cho hiện tượng chồng phổ không xảy ra.  
Ví dụ 1.4  
Cho một tín hiệu liên tục có phổ từ 120-160 kHz. Vẽ phổ 2 phía của tín hiệu rời rạc có được  
bằng cách lấy mẫu tín hiệu trên với 3 tần số lấy mẫu khác nhau sau đây :  
(a) Fs = 80 kHz  
(b) Fs = 100 kHz  
(c) Fs = 120 kHz  
Tần số lấy mẫu thích hợp là bao nhiêu trong 3 tần số trên ? Giải thích.  
- 16 -  
Chương I  
1.5.4 Lượng tử hóa tín hiệu có biên độ liên tục  
Như đã trình bày trên đây, lượng tử hóa chính là biến đổi tín hiệu rời rạc có biên độ liên tục  
thành tín hiệu có biên độ rời rạc bằng cách biểu diễn mỗi mẫu x(n) bằng một giá trị xq(n)  
chọn từ một tập hữu hạn các giá trị biên độ. Hình 1.12 minh họa hoạt động lượng tử hóa. Qua  
đây ta thấy lượng tử hóa gây ra lỗi lượng tử, là sai khác giữa giá trị lượng tử và giá trị thực sự  
của mẫu. Gọi eq(n) là sai số lượng tử hóa, ta có :  
eq (n) = xq (n) − x(n)  
Xq(n)  
Mức lượng  
tử hóa  
Bước lượng  
tử hóa  
Hình 1.12 Minh họa sự lượng tử hóa  
Về mặt toán, lượng tử hóa chính là làm tròn hay cắt gọt các giá trị của các mẫu rời rạc. Gọi  
giá trị lượng tử hóa là mức lượng tử hóa, khoảng cách giữa hai mức lượng tử hóa cạnh nhau  
là bước lượng tử hóa ∆, sai số lượng tử hóa trong trường hợp làm tròn nằm trong giới hạn là:  
∆
2
∆
2
− ≤ eq (n) ≤  
Nếu xmin và xmax là giá trị nhỏ nhất và lớn nhất của x(n) và L là số mức lượng tử hóa thì :  
xmax − xmin  
∆ =  
L −1  
Ta gọi xmax – xmin là dải động của tín hiệu và ∆ là độ phân giải. Lưu ý rằng khi dải động cố  
định thì việc tăng số mức lượng tử hóa sẽ làm giảm kích thước bước lượng tử hóa, lỗi lượng  
tử hóa giảm và độ chính xác trong chuyển đổi A/D tăng lên.  
Về lý thuyết thì lượng tử hóa luôn làm mất mát thông tin. Lý do là tất cả các mẫu có giá trị  
- 17 -  
Chương I  
∆
2
∆
2
nằm trong dải − ≤ x(n) <  
đều được lượng tử hóa thành cùng một giá trị.  
Chất lượng của tín hiệu ra bộ chuyển đổi A/D được biểu diễn bằng tỷ số tín hiệu trên nhiễu  
lượng tử hóa SQNR (signal-to-quantization noise ratio) :  
Px  
SQNR =  
P
q
Trong đó Px là công suất trung bình của tín hiệu liên tục và Pq là công suất trung bình của lỗi  
lượng tử hóa.  
Giả sử ta xét lượng tử hóa tín hiệu sin liên tục chu kỳ T0.  
Công suất trung bình của tín hiệu là :  
T0  
1
2π  
T0  
A2  
2
Px =  
(Acos t)2 dt =  
∫
T0  
0
Nếu lấy mẫu đúng với định lý lấy mẫu thì lượng tử hóa là quá trình duy nhất gây ra lỗi trong  
chuyển đổi A/D. Do đó, ta có thể tính lỗi lượng tử hóa bằng cách lượng tử hóa tín hiệu xa(t)  
thay cho tín hiệu rời rạc x(n). Tín hiệu xa(t) hầu như là tuyến tính trong khoảng giữa hai mức  
lượng tử hóa cạnh nhau. Lỗi lượng tử hóa là :  
eq (t) = xa (t) − xq (t)  
như chỉ ra trong hình 1.13.  
xa(t)  
eq(t)  
∆/2  
∆
-∆/2  
-τ  
0
τ
t
-τ 0 τ  
t
Hình 1.13 Lỗi lượng tử hóa trong trường hợp lượng tử hóa tín hiệu sin  
Công suất lỗi Pq được tính là:  
τ
1
1 τ  
Pq =  
eq2 (t)dt =  
eq2 (t)dt  
∫
∫
2τ −τ  
τ 0  
Vì e (t) = ∆ / 2τ t, − τ ≤ t ≤ τ nên ta có:  
(
)
q
2
1 τ  
∆
∆
2
⎛
⎜
⎞
⎠
Pq =  
t2dt =  
⎟
∫
τ 0 2τ  
12  
⎝
Nếu bộ lượng tử hóa có b bit và dải động là 2A thì ∆ = 2A / 2b . Do đó:  
A2 /3  
22b  
Pq =  
- 18 -  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 110 trang yennguyen 20960 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Xử lý tín hiệu số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_xu_ly_tin_hieu_so.pdf