Ứng dụng mạng nơ-ron trong kỹ thuật tạo thông tin phụ trợ cho mã hóa video phân tán

Nguyễn Thị Hương Thảo, Vũ Hữu Tiến  
ỨNG DỤNG MẠNG NƠ-RON TRONG  
KỸ THUẬT TẠO THÔNG TIN PHỤ TRỢ  
CHO MÃ HÓA VIDEO PHÂN TÁN  
Nguyễn Thị Hương Thảo, Vũ Hữu Tiến  
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông  
Dựa trên các kết quả lý thuyết này, các kiến trúc DVC  
thực tế đã được đề xuất trong đó nổi lên hai kiến trúc chính  
là kiến trúc DVC Berkeley [5] và kiến trúc DVC Stanford  
[6]. Tuy nhiên, bộ mã hóa DISCOVER [7] được phát triển  
từ kiến trúc Stanford giờ đây được coi như một bộ mã hóa  
DVC tham chiếu chuẩn hiện nay. Trong bộ mã hóa  
DISCOVER, chuỗi video được chia tách thành các khung  
hình chính (KF) và khung hình Wyner-Ziv (WZF). Trong  
khi các KF được mã hóa sử dụng giải pháp mã hóa video  
truyền thống như H.264/AVC Intra hay HEVC Intra. Các  
WZF được mã hóa theo nguyên tắc mã hóa video phân tán  
như sau. Đầu tiên, biến đổi DCT dựa trên khối được áp  
dụng cho WZF. Sau biến đổi, các hệ số DCT của toàn bộ  
WZF được nhóm lại với nhau, tạo thành dải các hệ số DCT.  
Các dải này được tách ra thành các mặt phẳng bit và các  
mặt phẳng bit này được đưa tới bộ mã hóa kênh để tạo ra  
các bit chẵn lẻ. Sau đó, các bit chẵn lẻ này được gửi tới bộ  
giải mã theo từng cụm và các bit hệ thống được loại bỏ. Tại  
bộ giải mã, thông tin phụ trợ, một phiên bản nhiễu của  
WZF, được tạo ra bằng cách sử dụng các KF đã giải mã  
trước đó. Bộ giải mã sẽ sử dụng các bit chẵn lẻ để “sửa”  
các sai lỗi trong thông tin phụ trợ và cuối cùng, WZF ban  
đầu được tái tạo.  
Tóm tắt: Mã hóa video phân tán (DVC) là giải pháp đầy  
tiềm năng cho các ứng dụng đường lên như mạng giám sát video  
không dây hay mạng cảm biến đa phương tiện. Trong mã hóa  
video phân tán, chất lượng của thông tin phụ trợ (SI) có ảnh  
hưởng quan trọng đến hiệu năng tốc độ bit-chất lượng khung hình  
sau giải mã (RD) của hệ thống Tuy nhiên, chất lượng thông tin  
phụ trợ thay đổi theo chuỗi và thậm chí trong mỗi khung hình. Vì  
vậy, để cải thiện thông tin phụ trợ, kỹ thuật tạo thông tin phụ trợ  
thích ứng với nội dung chuyển động của chuỗi video được đề  
xuất trong bài báo này. Cụ thể, bài báo đề xuất phương pháp sử  
dụng mạng Nơ-ron để dự đoán kích thước cửa sổ tìm kiếm cho  
thuật toán ước lượng chuyển động trong thuật toán tạo thông tin  
phụ trợ tương ứng với đặc tính của chuỗi video. Các kết quả mô  
phỏng cho thấy hiệu năng của bộ mã hóa video phân tán được cải  
thiện đáng kể khi sử dụng phương pháp này.  
Từ khóa: Video phân tán, thông tin phụ trợ.  
I. GIỚI THIỆU  
Trong các chuẩn mã hóa video truyền thống như  
H.264/AVC hay HEVC [1][2], nhiệm vụ ước lượng và bù  
chuyển động đầy phức tạp được thực hiện tại bộ mã hóa.  
Do đó trong các hệ thống mã hóa video truyền thống, bộ  
mã hóa rất phức tạp trong khi bộ giải mã khá đơn giản. Kiến  
trúc này phù hợp cho hầu hết các ứng dụng kiểu đường  
xuống mà ở đó dữ liệu được mã hóa một lần và được giải  
mã hàng triệu lần tại các bộ giải mã. Tuy nhiên, gần đây  
nhiều thứ đã thay đổi. Nhiều ứng dụng đường lên mới như  
các mạng camera không dây đã xuất hiện. Dữ liệu video  
giờ đây có thể được tạo ra và xử lý trên các thiết bị đa  
phương tiện hạn chế. Trong các ứng dụng này, bộ mã hóa  
được yêu cầu có độ phức tạp thấp và vì vậy chuẩn mã hóa  
video truyền thống giờ đây không còn phù hợp nữa. Một  
giải pháp thay thế đầy tiềm năng là mã hóa video phân tán  
(DVC).  
Rõ ràng, SI có ảnh hưởng lớn đến hiệu năng RD của  
DVC. Nếu SI được tạo ra càng giống với WZF, bộ mã hóa  
chỉ phải gửi ít bit tới bộ giải mã để sửa sai cho SI và vì vậy,  
tốc độ bit sẽ giảm đi với cùng một chất lượng. Đó là lý do  
các nghiên cứu về tạo SI chiếm một phần lớn trong các  
nghiên cứu về DVC. SI thường được tạo ra bằng cách nội  
suy hoặc ngoại suy các khung hình tham chiếu. Các phương  
pháp nội suy sử dụng các KF đã giải mã trước và sau trong  
khi các phương pháp ngoại suy chỉ sử dụng các KF đã giải  
mã trước. Các kết quả mô phỏng cho thấy các kỹ thuật tạo  
SI dựa trên nội suy thường cho SI chất lượng tốt hơn nhưng  
độ trễ cao hơn khi so với các kỹ thuật tạo SI dựa trên ngoại  
suy. Tuy nhiên, các phương pháp này thường cho kết quả  
không tốt khi các khung hình tham chiếu ở cách xa nhau  
hoặc trong các trường hợp đặc tính chuyển động của chuỗi  
video nhanh hoặc bất thường.  
Nền tảng của DVC là mã hóa nguồn phân tán. Mã hóa  
nguồn phân tán được xây dựng trên hai định lý của lý thuyết  
thông tin: định lý Slepian-Wolf [3] và định lý Wyner-Ziv  
[4]. Định lý Slepian-Wolf phát biểu rằng khi hai tín hiệu  
phụ thuộc thống kê với nhau được mã hóa độc lập nhưng  
được giải mã kết hợp thì tốc độ bit đạt được cũng tương tự  
như đối với hệ thống mã hóa và giải mã kết hợp. Định lý  
Wyner-Ziv mở rộng định lý Slepian-Wolf trong trường hợp  
nén có tổn thất. Dựa trên cách tiếp cận này, nhiệm vụ ước  
lượng chuyển động phức tạp sẽ được dịch chuyển từ bộ mã  
hóa sang bộ giải mã.  
Trong nghiên cứu thời kỳ đầu [6], SI đơn giản được tạo  
ra bằng cách lấy trung bình các KF được giải mã trước đó.  
Tuy nhiên, chất lượng của SI không tốt bởi vì không tính  
đến thông tin chuyển động trong quá trình tạo SI. Sau đó,  
các phương pháp tạo SI cải tiến được đề xuất và so sánh  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Hương Thảo  
Đến tòa soạn: 9/2020, chỉnh sửa:10/2020 , chấp nhận đăng: 10/2020  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
9
ỨNG DỤNG MẠNG NƠ-RON TRONG KỸ THUẬT TẠO THÔ NG TIN PHỤ TRỢ…  
trong [8]. Năm 2005, Ascenso và các cộng sự đã phát triển  
một phương pháp nội suy thời gian bù chuyển động  
(MCTI) [9] với giải thuật làm mịn chuyển động để tạo ra  
SI. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong các  
nghiên cứu về DVC và cũng được chấp nhận sử dụng trong  
bài báo này. Một cách tiếp cân khác là lọc SI ban đầu một  
số lần, thường là sau khi giải mã các mặt phẳng bit hoặc  
các dải hệ số [10][11]. Đề xuất trong [10] lọc các KF lân  
cận để lấy được vector chuyển động và đề xuất trong [11]  
tìm kiếm các ứng viên SI trong một cửa sổ cho trước trong  
SI ban đầu. Các giải pháp tạo SI dựa trên lọc liên tục thường  
cho SI cuối cùng có chất lượng tốt hơn nhưng có nhược  
điểm lớn là độ phức tạp bộ giải mã sẽ tăng lên.  
Biến đổi DCT: Mỗi WZF được chia thành các khối  
không chồng nhau có kích thước 4 × 4 và biến đổi DCT  
được áp dụng cho mỗi khối để tạo thành các hệ số DCT  
tương ứng với các pixel trong mỗi khối.  
Lượng tử hóa: Để giảm tốc độ bit, các hệ số DCT được  
lượng tử hóa. Các hệ số DCT được nhóm thành 16 dải hệ  
̅̅̅̅̅̅  
số 푏푘(푘 = 0; 15) ở đó mỗi dải hệ số gồm các hệ số có cùng  
vị trí trong các khối khác nhau. Các dải DCT này được  
lượng tử đồng nhất với bộ lượng tử 2푀 ở đó 푀푘 là số bit  
푘
biểu diễn cho các hệ số DCT của dải hệ số 푏푘. Các ma trận  
lượng tử được chọn tương ứng với các mức tốc độ bit khác  
nhau như trong [7].  
Bộ mã hóa LDPCA: Mỗi mặt phẳng bit được đưa vào  
bộ mã hóa LDPCA để tạo ra các bit chẵn lẻ tương ứng. Các  
bit chẵn lẻ này được lưu tại bộ đệm khung hình và các bit  
hệ thống bị loại bỏ. Các bit chẵn lẻ được truyền tới bộ giải  
mã theo từng cụm tùy theo yêu cầu từ bộ giải mã.  
Bởi vì nội dung chuyển động thay đổi theo dọc chuỗi,  
nó cần được tính đến trong quá trình tạo SI. Điều này có thể  
giúp tạo ra SI với chất lượng tốt hơn. Vì vậy, mục đích của  
bài báo này là đề xuất một phương pháp tạo SI thích ứng  
theo nội dung chuỗi video. SI ban đầu được tạo ra bằng  
cách sử dụng các khung hình tham chiếu trước và sau tương  
tự như cách tạo SI trong bộ mã hóa DISCOVER. Tuy  
nhiên, vùng tìm kiếm trong bước ước lượng chuyển động  
được điều chỉnh tùy theo nội dung chuyển động của chuỗi  
video. Đối với đoạn chuyển động nhanh hoặc phức tạp, rất  
khó để tạo ra SI chính xác. Do đó, SI cần được ước lượng  
chuyển động trong dải tìm kiếm rộng hơn để đạt được chất  
lượng tốt hơn. Ngược lại, đối với vùng chuyển động chậm,  
dễ dự đoán SI đúng và SI chỉ cần tìm kiếm trong vùng tìm  
kiếm nhỏ. Bài báo này đề xuất một phương pháp để lựa  
chọn vùng tìm kiếm phù hợp cho mỗi đoạn video dựa trên  
kỹ thuật học máy. Để đánh giá đề xuất này, các thử nghiệm  
được thực hiện trên bộ mã hóa DISCOVER với các KF  
được mã hóa sử dụng chuẩn HEVC Intra.  
B. Quá trình giải mã  
Tại bộ giải mã, các KF được giải mã bằng bộ giải mã  
HEVC Intra và các WZF được giải mã với sự trợ giúp của  
các KF này.  
Tạo thông tin phụ trợ: Khối nội suy thời gian bù chuyển  
động tạo ra thông tin phụ trợ, một ước lượng của WZF ở bộ  
mã hóa, bằng cách sử dụng các KF đã giải mã trước và sau  
như trong [9]. Trong mô-đun này, hai khung hình tham  
chiếu được lọc thông thấp để giảm nhiễu cho quá trình ước  
lượng chuyển động. Sau đó thực hiện ước lượng chuyển  
động trước để có được vector chuyển động trước. Tiếp đó,  
ước lượng chuyển động song hướng lọc các vector chuyển  
động thu được ở bước trước với ràng buộc về phép chiếu  
tuyến tính giữa khung hình tham chiếu trước và sau. Để cải  
thiện độ mượt không gian, bộ lọc trung vị có trọng số sẽ  
được sử dụng. Cuối cùng, bù chuyển động song hướng  
được thực hiện để tạo ra thông tin phụ trợ, một ước lượng  
của WZF tương ứng.  
Bài báo này được tổ chức như sau: Phần II giới thiệu về  
kisn trúc bộ mã hóa video WZ miền biến đổi. Phần III mô  
tả giải pháp đề xuất và phần IV là thảo luận về hiệu năng  
RD của đề xuất và so sánh với các nghiên cứu liên quan.  
Cuối cùng, phần V giới thiệu các kết luận và hướng nghiên  
cứu tiếp theo.  
Mô hình nhiễu tương quan: Thống kê dư thừa giữa các  
hệ số DCT của WZF gốc và khung hình SI tương ứng được  
giả định tuân theo phân bố Laplace như sau:  
II. KIẾN TRÚC MÃ HÓA VIDEO WZ MIỀN BIẾN  
ĐỔI  
훼
|
|
( )  
푓
푋/푦  
푥 = 푒−훼 푥−푦  
(1)  
Phần này giới thiệu về bộ mã hóa WZ miền biến đổi với  
tên gọi DVC-HEVC. Khác với bộ mã hóa DISCOVER gốc  
[7], các KF trong bộ mã hóa này được mã hóa bằng bộ mã  
hóa HEVC-Intra. Vì vậy nó có tên gọi là DVC-HEVC và  
được mô tả trong Hình 1.  
2
ở đó 푓 là hàm mật độ xác suất của 푋 với 푦 cho trước. 훼  
푋/푦  
là tham số của phân bố Laplace được xác định bởi công  
thức sau:  
WZF đã  
giải mã  
Mặt phẳng bit  
WZF  
Biến đổi  
DCT  
Bộ lượng tử  
đồng nhất  
Bộ mã hóa  
LDPCA  
Bộ  
đệm  
Bộ giải mã  
LDPCA  
Tái tạo  
IDCT  
2
휎2  
(2)  
√
훼 =  
Kênh phản hồi  
Trong công thức (2), 휎2 là phương sai của dư thừa giữa  
khung hình WZF gốc và khung hình SI tương ứng. Trong  
bộ mã hóa được sử dụng ở bài báo này, tham số 훼 của phân  
bố Laplace được ước lượng trực tuyến tại bộ giải mã ở mức  
dải hệ số.  
Mô hình hóa nhiễu  
tương quan  
DCT  
Tạo SI  
Bộ đệm  
khung hình  
KF đã  
giải mã  
KF  
Bộ mã hóa  
HEVC Intra  
Bộ giải mã  
HEVC Intra  
Bộ giải mã LDPCA: Khi đã có các hệ số DCT của  
khung hình SI và nhiễu tương quan đối với một dải hệ số  
DCT, các mặt phẳng bit của dải hệ số 푏푘 được giải mã  
LDPCA với sự hỗ trợ của các bit chẵn lẻ được gửi từ bộ mã  
hóa thông qua kênh phản hồi. Để quyết định có cần gửi  
thêm các bit chẵn lẻ để giải mã thành công cho một mặt  
phẳng bit nào đó, tiêu chí dừng yêu cầu được sử dụng. Để  
phát hiện và sửa các lỗi còn lại trong mỗi mặt phẳng bit,  
tổng kiểm tra dư thừa vòng (CRC) được tính cho mỗi mặt  
Hình 1. Kiến trúc bộ mã hóa DVC-HEVC  
A. Quá trình mã hóa  
Chuỗi video đầu vào được phân tách thành các KF  
푋2푡−1 và các WZF 푋2푡. Các KF được mã hóa bằng bộ mã  
hóa HEVC Intra và WZF được mã hóa theo nguyên tắc  
phân tán như sau:  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
10  
Nguyễn Thị Hương Thảo, Vũ Hữu Tiến  
phẳng bit tại bộ mã hóa và gửi tới bộ giải mã. Bộ giải mã  
sẽ tính CRC tương ứng cho mỗi mặt phẳng bit đã giải mã  
LDPCA thành công và so sánh với CRC nhận được từ bộ  
mã hóa để đảm bảo loại bỏ xác suất lỗi cho mỗi mặt phẳng  
bit được giải mã. Sau khi một mặt phẳng bit được giải mã  
LDPCA thành công, các mặt phẳng bit còn lại của cùng một  
dải hệ số sẽ được xử lý tiếp theo cách tương tự.  
thước cửa sổ lớn sẽ làm tăng thời gian tìm kiếm, trong khi  
kích thước nhỏ sẽ ước lượng chuyển động không chính xác.  
Vì vậy, trong bài báo này, phương pháp ước lượng vector  
chuyển động thích ứng với nội dung video dựa trên mạng  
Nơ-ron được đề xuất (ME-NN). Cụ thể, để phân loại mức  
độ chuyển động của khung hình, mạng ME-NN được sử  
dụng để dự đoán kích thước của cửa sổ tìm kiếm cho bộ  
ước lượng chuyển động dựa trên các đặc tính của khung  
hình. Kiến trúc mạng Nơ-ron được mô tả chi tiết trong phần  
dưới đây.  
Tái tạo: Các mặt phẳng bit đã giải mã LDPCA cùng với  
khung hình SI và thống kê dư thừa cho mỗi dải hệ số DCT  
được sử dụng cùng nhau để tái tạo lại hệ số DCT ban đầu.  
Giá trị tái tạo cho mỗi hệ số DCT của mỗi dải hệ số DCT  
được cho trong [12]:  
A. Kiến trúc mạng ME-NN  
Trong nghiên cứu này, kiến trúc mạng NN được sử  
dụng để ước lượng kích thước cửa số tìm kiếm (ME-NN)  
có 4 lớp bao gồm 1 lớp đầu vào, 2 lớp ẩn và 1 lớp đầu ra  
như mô tả trong hình 3. Lớp đầu vào nhận các giá trị X1,  
X2, X3, X4, X5 tương ứng với các đặc trưng của khung hình  
bao gồm MAD, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, giá trị trung bình  
và phương sai của các hệ số DCT trong băng DC và ba băng  
của ba hệ số AC đầu tiên của các khối hình kích thước 4x4  
trong khung hình. Trong các lớp ẩn, hàm kích hoạt sigmoid  
được sử dụng tại các nút mạng. Tại lớp đầu ra, hàm softmax  
được sử dụng để quyết định kích thước cửa sổ tìm kiếm cho  
thuật toán MCTI.  
푢 푥푓푋/푦(푥|푦)푑푥  
∫
푙
′
′
[
]
(3)  
푥 = 퐸 푥|푞 , 푦 =  
푢 푓푋/푦(푥|푦)푑푥  
∫
푙
ở đó 푥′ là hệ số DCT tái tạo, 푦 là hệ số DCT tương ứng của  
WZF và 퐸[. ] là toán tử kỳ vọng. 푙, 푢 là các biên dưới và  
trên tương ứng của 푞′.  
Biến đổi DCT ngược (IDCT): Cuối cùng, các hệ số DCT  
tái tạo được biến đổi DCT ngược để nhận được khung hình  
miền pixel.  
III.PHƯƠNG PHÁP ĐỀ XUẤT  
WZ được  
giải mã  
Bitplanes  
WZF  
Lượng tử  
hóa  
Mã hóa  
LDPCA  
Giải mã  
LDPCA  
Tái tạo khung  
hình WZ  
X1  
DCT  
Bộ đệm  
IDCT  
8 x 8  
Kênh phản hồi  
X2  
Mô hình nhiễu  
tương quan  
DCT  
16 x 16  
X3  
Lọc SI  
32 x 32  
MCTI  
ME-NM  
X4  
KFs được  
giải mã  
KF  
Mã hóa  
HEVC Intra  
Giải mã  
HEVC Intra  
X5  
Hình 2. Kiến trúc bộ mã hóa ME-NN-MCTI-HEVC  
Lớp đầu vào  
Lớp ẩn 1  
Lớp ẩn 2  
Lớp đầu ra  
Hình 2 mô tả bộ mã hóa video miền biến đối dựa trên  
cấu trúc bộ mã hóa WZ được đề cập ở mục II. Thông tin  
phụ trợ được tạo ra bằng cách sử dụng các khung hình chính  
đã được giải mã trước đó. Chính vì vậy, các đặc tính chuyển  
động của các khung hình chính ảnh hưởng trực tiếp tới chất  
lượng của khung hình phụ trợ. Cụ thể, nếu các khung hình  
chính có chuyển động chậm, tức là độ tương quan giữa các  
khung hình lớn sẽ dẫn đến chất lượng của khung hình SI  
cao. Ngược lại, các khung hình chính có chuyển động  
nhanh dẫn đến chất lượng của SI bị suy giảm. Để đảm bảo  
chất lượng của khung hình SI trong những trường hợp  
chuyển động nhanh, phương pháp tạo khung hình SI thích  
ứng với nội dung video được đề xuất. Cụ thể, để tạo khung  
hình SI từ hai khung hình chính, thuật toán MCTI được sử  
dụng để nội suy khung hình SI dựa trên kỹ thuật ước lượng  
chuyển động và bù chuyển động song hướng. Trong kỹ  
thuật MCTI, ước lượng chuyển động là một trong những  
bước quan trọng nhằm xác định vector chuyển động. Sau  
đó, khối bù chuyển động song hướng dựa vào các vector  
chuyển động để tạo khung hình SI. Như vậy, nếu việc ước  
lượng chuyển động càng chính xác thì khung hình SI sẽ  
càng giống với khung hình WZ. Trong các bộ mã hóa video  
truyền thống, ước lượng chuyển động cho một khối hình  
được thực hiện thông qua việc tìm kiếm trên một cửa sổ tìm  
kiếm của khung hình tham chiếu và cửa sổ này có kích  
thước cố định. Kích thước của cửa sổ tìm kiếm có ảnh  
hưởng trực tiếp tới hiệu quả của việc giải mã. Nếu kích  
Hình 3. Mô hình mạng ME-NN  
B. Quá trình huấn luyện  
Để huấn luyện mô hình, tập dữ liệu huấn luyện được  
trích chọn từ 10 chuỗi video Coastguard, Hall-Monitor,  
News, Container, Flower Garden, Mobile, Mother, Claire,  
Grandma và Harbour với độ phân giả 176x144 (QCIF), số  
lượng khung hình của mỗi chuỗi là 300 và tốc độ khung  
hình là 15 khung hình/giây. Đây là các chuỗi có nội dung  
đa dạng bao gồm chuyển động chậm, chuyển động nhanh,  
nội dung đơn giản, nội dung phức tạp. Để lấy ra các đặc  
trưng của các khung hình của chuỗi trên, mỗi khung hình  
sẽ được mã hóa 3 lần trên bộ mã hóa DVC với 3 cửa sổ tìm  
kiếm có kích thước là 8x8, 16x16 và 32x32. Một trong ba  
kích thước cửa sổ tìm kiếm cho hiệu năng nén cao nhất sẽ  
được chọn làm nhãn cho tập các tham số của khung hình  
đó. Mô hình ME-NN được huấn luyện trên nền tảng Google  
Colaboratory [12] với số epoch là 1000, batch-size bằng 10.  
Mô hình mạng ME-NN sau khi huấn luyện sẽ được sử  
dụng trong thuật toán MCTI để tạo ra khung hình SI như  
sau:  
Bước 1: Tính khung hình sai khác của 2 khung hình  
chính.  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
11  
ỨNG DỤNG MẠNG NƠ-RON TRONG KỸ THUẬT TẠO THÔ NG TIN PHỤ TRỢ…  
Bảng III. NN-MCTI-HEVC và MAD-MCTI-HEVC với phương  
pháp MCTI-HEVC theo BD-PSNR  
Bước 2: Tính các giá trị MAD, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất,  
giá trị trung bình và phương sai của các hệ số DCT trong  
băng DC và ba băng của ba hệ số AC đầu tiên của các khối  
hình kích thước 4x4 của khung hình sai khác ở bước 1.  
Chuỗi Video  
MAD-MCTI-  
HEVC  
ME-NN-MCTI-  
HEVC  
1.76  
0.53  
2.36  
0.72  
1.34  
Carphone  
Foreman  
Akiyo  
1.54  
0.19  
1.88  
0.04  
0.91  
Bước 3: Các đặc trưng ở Bước 2 sẽ là đầu vào của mô  
hình ME-NN. Mô hình sẽ quyết định kích thước của cửa sổ  
tìm kiếm tương ứng với bộ đặc trưng đầu vào.  
Bước 4: Với kích thước cửa sổ tìm kiếm ở Bước 2, thuật  
toán MCTI được sử dụng để tạo khung hình SI từ hai khung  
hình chính. Bốn giai đoạn của MCTI bao gồm: Ước lượng  
chuyển động hướng tiến, ước lượng chuyển động song  
hướng, lọc không gian và bù chuyển động song hướng.  
Coastguard  
Trung bình  
Bảng IV. So sánh hiệu năng RD của phương pháp đề xuất  
ME-NN-MCTI-H.264 và MAD-MCTI-H.264 với  
phương pháp MCTI-H.264 theo BD-Rate  
IV.ĐIỀU KIỆN THỬ NGHIỆM VÀ PHÂN TÍCH  
KẾT QUẢ  
Chuỗi Video  
MAD-MCTI-  
H.264  
ME-NN-MCTI-  
H.264  
A. Điều kiện thử nghiệm  
Carphone  
Foreman  
Akiyo  
-20.59  
-3.58  
-22.64  
-7.60  
Để đánh giá hiệu năng của giải pháp tạo thông tin phụ  
trợ đề xuất so với các phương pháp khác, bốn chuỗi video  
sau được sử dụng là Akiyo, Carphone, Foreman và  
Coastguard với các đặc điểm được mô tả trong Bảng I. Bốn  
cặp giá trị (tốc độ bit (Rate), độ méo (Distortion)) hay còn  
gọi là các điểm RD được đo tương ứng với ma trận lượng  
tử kích thước 4x4. Các phần tử của ma trận là các giá trị  
lượng tử tương ứng cho các hệ số của các giá trị DCT của  
các khối hình. Khi các giá trị lượng tử tăng thì tốc độ bit và  
chất lượng cũng tăng. Để cải thiện chất lượng video tại phía  
giải mã, các khung hình chính được mã hóa bằng bộ mã  
hóa H.265/HEVC ở chế độ Intra.  
-25.24  
-0.65  
-27.16  
-2.89  
Coastguard  
Trung bình  
-12.51  
-15.07  
Bảng V. So sánh hiệu năng RD của phương pháp đề xuất  
ME-NN-MCTI-H.264 và MAD-MCTI-H.264 với  
phương pháp MCTI-H.264 theo BD-PSNR  
Chuỗi Video  
MAD-MCTI-  
H.264  
ME-NN-MCTI-  
H.264  
Bảng I. Điều kiện thử nghiệm  
Carphone  
Foreman  
Akiyo  
1.36  
0.24  
1.96  
0.04  
0.9  
1.48  
0.50  
2.13  
0.16  
1.07  
Chuỗi Video  
Độ phân  
giải  
Số khung  
hình  
Tham số lượng  
tử  
Carphone  
Foreman  
Akiyo  
{25,29,34,40}  
{25,29,34,40}  
{25,29,34,40}  
{26,30,34,38}  
Coastguard  
Trung bình  
176x144  
300  
Coastguard  
Tại mỗi điểm RD, tốc độ bit và giá trị PSNR được tính  
cho thành phần chói của mỗi khung hình. Các kết quả của  
phương pháp đề xuất với tên gọi NN-based-MCTI được mô  
phỏng trên hai bộ mã hóa DVC-HEVC và DVC-H.264 và  
được so sánh với một số phương pháp trước đây bao gồm:  
(1) Phương pháp sử dụng cửa sổ tìm kiếm thích ứng theo  
giá trị MAD-MCTI [13], (2) Phương pháp MCTI với cửa  
sổ tìm kiếm có kích thước cố định. Để đánh giá hiệu quả  
của các phương pháp, giá trị Bjontegaard được sử dụng để  
đo độ khác biệt giữa các đường RD của các phương pháp.  
B. Kết quả  
Bảng II. So sánh hiệu năng RD của phương pháp đề xuất ME-  
NN-MCTI-HEVC và MAD-MCTI-HEVC với phương pháp  
MCTI-HEVC theo BD-Rate  
Hình 4. So sánh hiệu năng RD của phương pháp đề xuất với  
chuỗi Carphone  
Chuỗi Video  
MAD-MCTI-  
HEVC  
ME-NN-MCTI-  
HEVC  
Carphone  
Foreman  
Akiyo  
-21.44  
-2.89  
-24.37  
-7.89  
-24.00  
-0.66  
-29.52  
-11.56  
-18.33  
Coastguard  
Trung bình  
-12.25  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
12  
Nguyễn Thị Hương Thảo, Vũ Hữu Tiến  
video để dự đoán kích thước của cửa sổ tìm kiếm vector  
chuyển động trong thuật toán MCTI. Từ đó bộ giải có thể  
mã tiết kiệm được số bit mã hóa đồng thời tăng chất lượng  
của thông tin phụ trợ SI, giúp cải thiện chất lượng khung  
hình video sau giải mã.  
Hình 5. So sánh hiệu năng RD của phương pháp đề xuất với  
chuỗi Foreman  
Hình 7. So sánh hiệu năng RD của phương pháp đề xuất với  
chuỗi Coastguard  
V. KẾT LUẬN  
Bài báo đã đề xuất phương pháp tăng cường chất lượng  
khung hình phụ trợ SI trong bộ mã hóa video phân tán  
DVC. Cụ thể, phương pháp đề xuất đã sử dụng mạng Nơ-  
ron với đầu vào là các đặc trưng của chuỗi video và đầu ra  
là kích thước cửa sổ tìm kiếm trong thuật toán MCTI để tạo  
khung hình SI từ hai khung hình chính. Các kết quả mô  
phỏng cho thấy phương pháp đề xuất đã đạt được kết quả  
cao hơn một số phương pháp trước đây trên phương diện  
tiết kiệm được nhiều hơn số lượng bit dùng đã mã hóa đồng  
thời chất lượng khung hình sau giải mã được tăng lên.  
Hình 6. So sánh hiệu năng RD của phương pháp đề xuất với  
chuỗi Akiyo  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Học Viện Công nghệ  
Bưu chính Viễn thông trong đề tài mã số 07-2020-HV-  
ĐPT-CN và 03-HV-2020-ĐT1.  
Bảng II, III, IV và V mô tả mức độ cải thiện hiệu năng  
(trên phương diện tốc độ bit và chất lượng khung hình sau  
giải nén) của phương pháp đề xuất so với phương pháp  
được đề xuất trước đây MAD-MCTI [13] và phương pháp  
sử dụng kỹ thuật MCTI với kích thước cửa sổ tìm kiếm cố  
định. Kết quả mô phỏng chỉ ra rằng với bộ mã hóa sử dụng  
HEVC, phương pháp MAD-MCTI-HEVC tiết kiệm được  
trung bình 12.25% tổng số bit, trong khi phương pháp ME-  
NN-MCTI-HEVC tiết kiệm được 18.33% tổng số bit so với  
phương pháp MCTI-HEVC. Tương tự, nếu các khung hình  
chính được mã hóa bởi bộ mã hóa H.264 từ phương pháp  
MAD-MCTI-H.264 tiết kiệm 12.51% trong khi ME-NN-  
MCTI-H.264 tiết kiệm tới 15.07%. Xét trên phương diện  
chất lượng video sau giải mã, phương pháp MAD-MCTI  
trên HEVC và H.264 cải thiện được 0.9dB và 0.91dB trong  
khi ME-NN-MCTI cải thiện được 1.34dB và 1.07dB.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] P.L Dragotti and M. Gastpar, “Distributed Source Coding:  
Theory, Algorithms and Applications,” Academic Press,  
Feb. 2009.  
[2] X. HoangVan, J. Ascenso, and F. Pereira, “HEVC backward  
compatible scalability:  
A low encoding complexity  
distributed video coding based approach,” Signal Process.:  
Image Commun., vol. 33, no. 4, pp. 51-70, Apr. 2015.  
[3] X. HoangVan, J. Ascenso, and F. Pereira., “Adaptive  
Scalable Video Coding: a HEVC based Framework  
Combining the Predictive and Distributed Paradigms”,  
IEEE TCSVT, vol. 99, no. 00, pp. 1-14, Mar. 2016.  
[4] A. Aaron, R. Thang, and B. Girod (2002) “Wyner-Ziv  
Coding of Motion Video”, in Proc. Asilomar Conference on  
Signals and Systems, Pacific Grove, CA, USA, November  
2002.  
Hình 4, 5, 6, 7 so sánh hiệu năng RD của 3 phương pháp  
được triển khai trên bộ mã hóa DVC-HEVC và DVC-  
H.264 tại bốn giá trị lượng tử. Từ các kết quả mô phỏng ta  
nhận thấy phương pháp đề xuất ME-NN-MCTI có hiệu  
năng cao hơn so với các phương pháp trước đây trong cả  
hai trường hợp sử dụng HEVC và H.264 để mã hóa khung  
hình chính. Kết quả này có được là do phương pháp đề xuất  
sử dụng mạng Nơ-ron dựa trên các đặc trưng của chuỗi  
[5] J. Ascenso, C. Brites, and F. Pereira, Improving Frame  
Interpolation with Spatial Motion Smoothing for Pixel  
Domain Distributed Video Coding”in EURASIP  
Conference on Speech and Image Processing, Multimedia  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
13  
ỨNG DỤNG MẠNG NƠ-RON TRONG KỸ THUẬT TẠO THÔ NG TIN PHỤ TRỢ…  
Communications and Services (EC-SIPMCS), Smolenice,  
Slovak Republic, June 2005.  
Nguyễn Thị Hương Thảo,  
Nhận bằng tốt nghiệp đại học và  
thạc sỹ Học viện Công nghệ Bưu  
chính Viễn thông vào các năm  
2003 và 2010. Hiện giảng dạy và  
làm Nghiên cứu sinh tại Khoa Kỹ  
thuật Điện tử 1 - Học viện Công  
nghệ Bưu chính Viễn thông. Lĩnh  
vực nghiên cứu: Xử lý tín hiệu  
Video, Xử lý Ảnh, Lý thuyết  
thông tin.  
[6] J. Ascenso, C. Brites, and F. Pereira, “Motion Compensated  
Refinement for Low Complexity Pixel based Distributed  
Video Coding,” in IEEE Conference on Advanced Video  
and Signal Based Surveillance (AVSS), Como, Italy,  
September 2005.  
[7] R. Puri and K. Ramchandran, PRISM: A new robust video  
coding architecture based on distributed compression  
principles, 40th Allerton Conf. Communication, Control  
and Computing, Allerton, IL, USA, 2002.  
Vũ Hữu Tiến, Tốt nghiệp đại  
học và cao học ngành Điện tử  
Viễn thông vào các năm 2002,  
2004 tại Đại học Bách khoa Hà  
nội. Năm 2010 nhận bằng Tiến sĩ  
tại Đại học Chulalongkorn (Thái  
Lan) ngành Điện tử Viễn thông.  
Hiện đang công tác tại Khoa Đa  
phương tiện, Học viện Công  
nghệ Bưu chính Viễn thông.  
[8] R. Puri, A. Majumdar, and K. Ramchandran, “PRISM: a  
video coding paradigm with motion estimation at the  
decoder,” IEEE Transactions on Image Processing, vol. 16,  
no. 10, pp. 2436-2448, Oct. 2007.  
[9] T. Wiegand, G. J. Sullivan, S. Member, G. Bjøntegaard, A.  
Luthra, and S. Member, “Overview of the H.264/AVC  
Video Coding Standard,” IEEE Trans. Circuits Syst. Video  
Technol., vol. 13, no. 7, pp. 560–576, 2003  
Lĩnh vực nghiên cứu hiện nay:  
Xử lý tín hiệu và truyền thông đa  
phương tiện, Phát triển ứng dụng  
đa phương tiện.  
[10] D. Slepian, J. K. Wolf, and D. Slepian, “Noiseless Coding  
of Correlated Information Sources,” IEEE Trans. Inf.  
Theory, vol. 19, no. 4, pp. 471–480, 1973, doi:  
10.1109/TIT.1973.1055037  
[11] A. Wyner and J.Ziv, “The Rate-Distortion Function for  
Source Coding with Side Information at the Decoder,” IEEE  
Trans. Inf. Theory., vol. 22, no. 1, pp. 1–10, 1976  
[12] Google, Colaboratory: frequently asked questions, 2018,  
[Access:  
6-21-2018].  
[Online].  
Available:  
[13] T. Nguyen, T. Huong, T. V. Huu and S. Vu Van, "Content  
based side information creation for distributed video  
coding," 2019 6th NAFOSTED Conference on Information  
and Computer Science (NICS), Hanoi, Vietnam, 2019, pp.  
223-227, doi: 10.1109/NICS48868.2019.9023813.  
NEURAL NETWORK BASED SIDE  
INFORMATION GENERATION IN  
DISTRIBUTED VIDEO CODING  
Abstract: Distributed Video Encoding (DVC) is a  
potential solution for uplink applications such as wireless  
video surveillance networks or multimedia sensor  
networks. In distributed video encoding, the quality of the  
side information (SI) has a significant effect on the bit-  
distortion (RD) performance. However, the quality of the  
side information varies in video sequence and even in every  
frame. Therefore, to improve the side information, the  
technique of creating side information adapted to the  
content of the video sequence is proposed in this article.  
Specifically, the paper proposes a method to use neural  
networks to predict the search window size for motion  
estimation algorithm in the algorithm of side information  
generation. The simulation results show that the  
performance of the distributed video codec is significantly  
improved using this method.  
Keyword: DVC, Wyner-Ziv Coding  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
14  
pdf 6 trang yennguyen 14760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng mạng nơ-ron trong kỹ thuật tạo thông tin phụ trợ cho mã hóa video phân tán", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_mang_no_ron_trong_ky_thuat_tao_thong_tin_phu_tro_ch.pdf