Factors influencing MNCs’ location decision

VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 115-123  
Original Article  
Factors Influencing MNCs’ Location Decision  
Nguyen Thi Thanh Mai*  
VNU University of Economics and Business,  
144 Xuan Thuy Str., Cau Giay Dist., Hanoi, Vietnam  
Received 18 September 2019  
Revised 24 September 2019; Accepted 25 September 2019  
Abstract: The significant growth of international investment in recent decades has led to the  
creation of a number of theoretical schools explaining this phenomenon and trying to answer the  
question of why multinational companies (MNCs) choose to locate their foreign direct investment  
(FDI) at one location not others? What are other factors influencing that choice? Research in this  
area is derived from two intertwin tradditions: the first is derived from the trade theory and  
economics of industrial organization and the second is the internationalization process approach  
associated with Uppsala model. However, both approaches have limitations and important bias.  
The paper will review these two approaches, analyze and identify the limitations of each approach,  
and give some suggestions for future research.  
Keywords: FDI, selection decision, FDI location, MNCs.  
*
_______  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]n  
115  
VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 115-123  
Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn  
địa điểm FDI của MNCs  
Nguyễn Thị Thanh Mai*  
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 18 tháng 9 năm 2019  
Chỉnh sửa ngày 24 tháng 9 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 9 năm 2019  
Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của đầu tư quốc tế trong những thập kỷ gần đây đã dẫn đến sự ra  
đời của nhiều trường phái lý thuyết giải thích hiện tượng này và cố gắng trả lời câu hỏi tại sao các  
công ty đa quốc gia (MNCs) lại lựa chọn phân bố đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của họ ở đại  
điểm này mà không phải ở các địa điểm khác? Đâu là những nhân tố tác động tới sự lựa chọn đó?  
Nghiên cứu trong lĩnh vực này bắt nguồn từ hai hướng đan xen nhau: hướng thứ nhất bắt nguồn từ  
lý thuyết thương mại và kinh tế học về tổ chức công nghiệp và hướng thứ hai là cách tiếp cận quy  
trình quốc tế hóa gắn liền với mô hình Uppsala. Tuy nhiên, cả hai cách tiếp cận này đều có những  
hạn chế và sự thiên lệch lớn. Bài viết sẽ tổng quan hai cách tiếp cận này, phân tích và chỉ ra những  
hạn chế của mỗi cách tiếp cận, từ đó đưa ra một số gợi mở về hướng nghiên cứu trong tương lai.  
Từ khóa: FDI, quyết định lựa chọn, địa điểm FDI, MNCs.  
1. Mở đầu *  
Cùng với quá trình toàn cầu hóa ngày càng  
Để trả lời câu hỏi tại sao FDI lại được doanh  
nghiệp phân bố tại địa điểm này mà không phải  
địa điểm khác, nhân tố nào tác động đến việc  
lựa chọn địa điểm đầu tư cũng như mức độ tác  
động các nhân tố này, có rất nhiều trường phái  
lý thuyết cũng như phương pháp được sử dụng  
để phân tích ở các bối cảnh nghiên cứu khác  
nhau. Điều này đồng nghĩa với việc có các kết  
quả nghiên cứu khác nhau, có kết quả nhận  
được sự đồng thuận rộng rãi, có kết quả vẫn còn  
gây ra nhiều tranh cãi. Trong điều kiện đó, để  
dựng lại một bức tranh tổng quát về vấn đề này,  
tác giả tiến hành tổng thuật một cách hệ thống  
nhất các nghiên cứu đã có, từ đó xác định được  
những khoảng trống nghiên cứu và đề xuất  
hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực này.  
sâu rộng trong những năm gần đây, mà một  
trong những biểu hiện quan trọng là sự gia tăng  
của hoạt động FDI của MNCs, các học giả  
trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế  
quốc tế, kinh tế học đô thị, quản trị chiến lược,  
địa lý kinh tế, kinh doanh quốc tế… đã có nhiều  
nghiên cứu lý giải hiện tượng này [1, 2]. Trong  
đó, sự phân bố về mặt địa lý của FDI và các  
nhân tố tác động đến việc lựa chọn địa điểm  
đầu tư của MNCs luôn là một trong những khía  
cạnh được nhiều học giả lưu tâm nghiên cứu.  
_______  
* Tác giả liên hệ.  
Trong bài viết này, tác giả áp dụng hướng  
dẫn của Nguyễn Văn Thắng (2014) [3] về tổng  
Địa chỉ email: [email protected]n  
116  
N.T.T. Mai / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 115-123  
117  
quan tài liệu nghiên cứu, với các vấn đề được rà  
soát, gồm: (1) Các trường phái lý thuyết chính  
được sử dụng khi nghiên cứu các nhân tố ảnh  
hưởng tới việc lựa chọn địa điểm đầu tư nước  
ngoài của doanh nghiệp; (2) Bối cảnh nghiên  
cứu, trong đó đề cập đến phạm vi địa lý mà các  
nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành; (3)  
Các phương pháp nghiên cứu chính mà các học  
giả trong các lĩnh vực khác nhau đã sử dụng để  
xác định và đánh giá tác động của các nhân tố  
đối với việc lựa chọn địa điểm phân bố FDI của  
doanh nghiệp; (4) Các kết quả nghiên cứu  
chính. Từ đó, tác giả đánh giá những hạn chế  
của các công trình trước đây và tìm ra khoảng  
trống tri thức cho những nghiên cứu tiếp theo.  
Theo đó, quyết định của các nhà quản lý bị chi  
phối bởi sự hạn chế về thông tin và nỗi sợ rủi  
ro. Hành vi như vậy dẫn tới cách tiếp cận theo  
giai đoạn của việc gia nhập thị trường nước  
ngoài. Các nghiên cứu thực nghiệm của mô  
hình được thực hiện bởi Hörnell, Vahlne và  
Wiedersheim-Paul  
(1973),  
Vahlne  
và  
Wiedersheim-Paul (1973), Johanson và Vahlne  
(1977), Vahlne và Nordström (1993) [5, 7-9] về  
MNCs Thụy Điển. Các biến giải thích của các  
học giả này gồm trình độ phát triển kinh tế và  
giáo dục, sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ  
giữa Thụy Điển với các nước khác. Hörnell,  
Vahlne và Wiedersheim-Paul (1973) lại tập  
trung vào nhận thức của các nhà quản lý Thụy  
Điển.  
Trong hai hướng trên, số lượng nghiên cứu  
thực nghiệm tận dụng và cố gắng chứng minh  
hướng lý thuyết thứ nhất nhiều hơn hẳn so với  
các nghiên cứu dựa trên lý thuyết quy trình  
quốc tế hóa [4]. Quá trình ra quyết định lựa  
chọn địa điểm FDI nhận được tương đối ít sự  
quan tâm của các học giả. FDI không phải là  
quyết định “đầu tư hay không đầu tư” tại một  
thời điểm mà là một quá trình. Điều này đã  
được biết đến ngay từ nghiên cứu sơ khai về  
việc ra quyết định FDI trong cuốn sách của  
Aharoni (1966) với tên gọi The Foreign  
Investment Decision Process (tạm dịch: Quá  
trình ra quyết định đầu tư nước ngoài). Các  
nghiên cứu về quá trình quốc tế hóa dựa trên  
hành vi và quản lý thường sử dụng phương  
pháp nghiên cứu trường hợp điển hình với số  
lượng nhỏ các công ty riêng lẻ hoặc các cuộc  
điều tra cắt ngang [4]. Tuy nhiên, cả hai cách  
tiếp cận này đều có những hạn chế và sự thiên  
lệch lớn, sẽ được trình bày trong mục 4  
dưới đây.  
2. Các trường phái lý thuyết chính được  
sử dụng  
Quyết định về địa điểm của MNCs luôn là  
khía cạnh trọng tâm của quá trình ra quyết định  
quản lý và phát triển lý thuyết của các học giả  
kinh doanh quốc tế. Mỗi khi thực hiện một hoạt  
động, công ty phải trả lời câu hỏi quan trọng là  
hoạt động đó nên được đặt ở đâu? Nghiên cứu  
trong lĩnh vực này bắt nguồn từ hai hướng đan  
xen nhau [4]: hướng thứ nhất bắt nguồn từ lý  
thuyết thương mại và kinh tế học về tổ chức  
công nghiệp theo sau Hymer (1960) [5] và  
hướng thứ hai là cách tiếp cận quy trình quốc tế  
hóa có cấu trúc lỏng lẻo hơn gắn liền với mô  
hình Uppsala [6].  
Trong hướng nghiên cứu thứ nhất, việc lựa  
chọn địa điểm đầu tư nước ngoài là có chủ đích  
và được thực hiện một cách lý trí nhằm mục  
tiêu tìm kiếm lợi nhuận và sự hấp dẫn về chi phí  
yếu tố sản xuất. Mục tiêu thứ cấp của các quyết  
định này là tìm kiếm tài sản và duy trì tỷ suất  
lợi nhuận.  
Hướng nghiên cứu thứ hai dự báo sự gia  
tăng di chuyển nguồn lực ra nước ngoài theo  
thời gian là kết quả từ quá trình học tập và tích  
lũy kinh nghiệm của doanh nghiệp vì cùng với  
quá trình này, doanh nghiệp có khả năng nhận  
biết rõ ràng hơn về môi trường đầu tư nước  
ngoài. Mô hình này phân tích quá trình quyết  
định và đặc điểm của các cá nhân ra quyết định.  
3. Bối cảnh nghiên cứu thực nghiệm  
Hiện nay, các nghiên cứu thực nghiệm  
thường tập trung vào phân tích FDI ở các nền  
kinh tế lớn, trong đó chủ yếu phân tích: (1) FDI  
ra nước ngoài của MNCs Nhật Bản và Mỹ; (2)  
FDI vào Trung Quốc; và (3) Dòng FDI ra và  
vào Mỹ. Nguyên nhân chủ yếu là do tính sẵn có  
N.T.T. Mai / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 115-123  
118  
về dữ liệu ở các quốc gia này. Kết quả tổng  
quan của Nielsen và cộng sự (2017) cho thấy có  
90 công trình (trong số 153 công trình được rà  
soát) xem xét sự phân bố về mặt địa lý của FDI  
ở cấp độ quốc gia, trong đó 44% các nghiên cứu  
này tập trung vào Trung Quốc và 20% tập trung  
vào Mỹ [2]. Các nghiên cứu về dòng đầu tư trực  
tiếp ra nước ngoài thường là từ Nhật Bản  
(38/153 nghiên cứu) và Mỹ (27/153), và một số  
ít các nghiên cứu về đầu tư ra nước ngoài của  
Trung Quốc, Hàn Quốc, Đức và Anh.  
Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nhiều nghiên  
cứu ở cấp độ địa phương về sự phân bố FDI  
trong các quốc gia nhỏ và các nền kinh tế đang  
phát triển, trong đó có Việt Nam. Cũng có một  
số nghiên cứu ở cấp độ địa phương được thực  
hiện về FDI ở các khu vực hành chính của  
Trung Quốc (ví dụ Kang và Jiang (2012);  
Ramasamy, Yeung và Laforet (2012) [10, 11])  
hoặc các bang của Mỹ (ví dụ Kandogan (2012);  
Rogers và Wu (2012) [12, 13]) - đây thường là  
những khu vực rất lớn, là nơi sinh sống của  
khoảng từ 6-31 triệu người [2]. Lý thuyết về lựa  
chọn địa điểm FDI của MNCs vẫn còn khoảng  
trống kiến thức về sự phân bố FDI tại các quốc  
gia nhỏ và tại các khu vực địa phương nhỏ hơn  
trong phạm vi một quốc gia [2]. Nguyên nhân  
chính của việc thiếu hụt nghiên cứu ở cấp độ  
này cũng như ở các quốc gia nhỏ là do sự thiếu  
hụt về số liệu phân tích.  
Tuy nhiên, cả hai cách tiếp cận này đều có  
những hạn chế và sự thiên lệch lớn. Hạn chế  
của mô hình quá trình quốc tế hóa chủ yếu liên  
quan tới việc thiếu liên kết giữa các nghiên cứu  
thực nghiệm và mô hình lý thuyết [2]. Đồng  
thời, lĩnh vực hoạt động của công ty được khảo  
sát cũng gây ra nhiều lo lắng. Tuy nhiên, theo  
Buckley, Devinney và Louviere (2003), những  
hạn chế khó nhận ra của cách tiếp cận kinh tế  
học là đáng lo ngại hơn [4]. Thứ nhất, rất khó  
để đánh giá được chất lượng của nguồn dữ liệu  
thu thập được. Số liệu có thể không mang tính  
ngẫu nhiên, bị hạn chế do thiên kiến xác nhận  
(nonresponse bias), chính vì thế mà kết quả  
không đại diện cho nhân tố thực tế ảnh hưởng  
đến quyết định lựa chọn địa điểm phân bố FDI  
của MNCs. Thứ hai, số liệu thứ cấp về FDI tại  
một địa phương hoặc quốc gia chỉ mô tả bức  
tranh về FDI thực tế, nhưng lại không thể hiện  
quá trình lựa chọn hay những mối quan tâm và  
cân nhắc (của lãnh đạo MNCs) đằng sau quyết  
định này. Theo Buckley, Devinney và Louviere  
(2003), vì mẫu nghiên cứu chỉ dựa vào địa điểm  
đầu tư cuối cùng nên chúng ta không thể biết  
được công ty đã xem xét những lựa chọn nào và  
loại bỏ những lựa chọn nào (điều này không thể  
hiện trong dữ liệu); và những lựa chọn bị loại  
bỏ có đặc điểm gì khác về mặt nhận thức đối  
với các giám đốc ra quyết định [4]. Thứ ba, việc  
lựa chọn địa điểm đầu tư thực ra là một quá  
trình lựa chọn theo thứ bậc. Giả sử một MNC ra  
quyết định về địa điểm phân tán hoạt động của  
họ, trước hết họ phải xác định xem nên đầu tư  
tới khu vực nào, sau đó mới xem nên thâm nhập  
quốc gia nào, tiếp theo mới chọn địa phương  
trong quốc gia đó. Nếu các nhà nghiên cứu  
không tính đến vấn đề lựa chọn địa điểm đầu tư  
theo thứ bậc thì sẽ không phản ánh được hành  
vi ra quyết định thực tế của các nhà quản lý và  
sẽ dẫn đến những sai lệch trong kết quả  
nghiên cứu.  
4. Các phương pháp nghiên cứu chính  
Rà soát về phương pháp nghiên cứu mà các  
tác giả trong lĩnh vực này sử dụng cho thấy  
nghiên cứu định lượng dựa trên số liệu thứ cấp  
nhằm chứng minh cách tiếp cận kinh tế học rất  
phổ biến [1], trong đó các nghiên cứu định tính  
áp dụng cách tiếp cận quy trình quốc tế hóa chủ  
yếu giới hạn ở lĩnh vực kinh doanh quốc tế và  
quản trị chiến lược [2]. Theo nhóm tác giả này,  
trong số 153 công trình được rà soát, chỉ có 5%  
nghiên cứu sử dụng số liệu sơ cấp thu thập  
được từ điều tra khảo sát. Hầu hết các nghiên  
cứu đều sử dụng số liệu thứ cấp thu thập được  
từ nguồn công khai hoặc các chương trình  
thống kê của chính phủ.  
Về mô hình để phân tích mức độ tác động  
của các nhân tố tới việc lựa chọn địa điểm phân  
bố FDI của MNCs, các nhà nghiên cứu thường  
sử dụng mô hình biến công cụ hoặc mô hình ra  
N.T.T. Mai / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 115-123  
119  
quyết định. Hiện nay, số lượng các nghiên cứu  
sử dụng loại mô hình thứ hai ngày càng tăng lên  
nhưng vẫn không thể so sánh với nghiên cứu sử  
dụng biến công cụ [2].  
các vùng lẫn nhau. Nếu không đưa tác động này  
vào trong mô hình nghiên cứu thì rất có thể kết  
quả nghiên cứu sẽ bị lệch và không phù hợp [2,  
17, 18]. Tuy nhiên, số lượng các nghiên cứu sử  
dụng mô hình này vẫn còn hạn chế.  
Đối với mô hình sử dụng biến công cụ, mức  
độ chi tiết của thông tin và nguồn dữ liệu sẽ  
quyết định câu hỏi nghiên cứu nào có thể được  
trả lời. Thông thường tham vọng của các học  
giả là đánh giá mức độ mà các nhân tố tác động  
đến quyết định đầu tư của MNCs, kết quả là  
dẫn tới lượng FDI cao hay thấp. Tuy nhiên, vì  
các nhà nghiên cứu không thể chỉ định một biến  
số (ví dụ mức thuế cao) một cách ngẫu nhiên  
tới một số địa điểm và giữ lại một nhóm các  
biến kiểm soát (chẳng hạn giữ một nhóm địa  
điểm khác nhau có cùng mức thuế) [2]. Điều  
này gây ra những thách thức trong việc nghiên  
cứu về mối tương quan và mối quan hệ nhân  
quả [14, 15]. Để giải quyết các thách thức trên,  
một số nhà nghiên cứu đã cố gắng khám phá  
thêm các biến công cụ có thể ảnh hưởng tới  
quyết định của doanh nghiệp trong việc lựa  
chọn địa điểm FDI (ví dụ Bobonis và Shatz  
(2007)) [16]. Một số nhà nghiên cứu khác lại cố  
gắng giải quyết tính không đồng nhất không  
quan sát được (unobserved heterogeneity) bằng  
cách sử dụng biến ngoại sinh liên quan đến đặc  
điểm của địa điểm nhận đầu tư (ví dụ Rogers và  
Wu (2012)) [13]. Tuy nhiên, vẫn có rất ít các  
nghiên cứu giải quyết hạn chế liên quan tới tính  
sai lệch nội sinh (endogeneity biases) khi  
nghiên cứu về việc lựa chọn địa điểm phân bố  
FDI của MNCs. Chính vì thế, kiến thức hiện  
nay về mối quan hệ nhân quả giữa đặc điểm của  
địa điểm và việc lựa chọn địa điểm đầu tư vẫn  
hạn chế.  
Loại mô hình thứ hai được sử dụng để phân  
tích là mô hình ra quyết định (discrete choice  
model). Mô hình này ngày càng được các học  
giả quan tâm sử dụng bởi lẽ quyết định gia nhập  
một địa phương cụ thể bằng phương thức FDI  
là một quá trình lựa chọn theo thứ bậc [2]. Các  
mô hình ra quyết định được sử dụng gồm có mô  
hình logit đa thức (multinomial logit), mô hình  
logit thứ bậc (nested logit model), mô hình logit  
hỗn hợp (mixed logit model), mô hình cây ra  
quyết định [19, 20]. Mặc dù mô hình logit thứ  
bậc có cách tiếp cận chuẩn mực, trong đó tính  
đến những nhân tố tổng hợp của các khu vực  
địa lý ở các cấp độ khác nhau nhưng hiện nay  
cần chú trọng vào các cách tiếp cận tinh vi hơn.  
Chẳng hạn Basile và cộng sự (2008) phát triển  
mô hình logit hỗn hợp để đánh giá việc lựa  
chọn địa điểm đầu tư trong 50 vùng NUST-1 ở  
8 quốc gia châu Âu - một cách tiếp cận có tính  
đến sự tương đồng giữa các vùng trong phạm vi  
một quốc gia, nhưng lại linh hoạt hơn vì nó cho  
phép nghiên cứu chung hơn về sự lựa chọn thay  
thế giữa các vùng cũng như ước lượng sự tương  
tác giữa các cấp độ [20]. Tương tự Rasciute và  
cộng sự (2014) sử dụng mô hình logit hỗn hợp,  
tích hợp khía cạnh vĩ mô, vi mô và đặc điểm  
của công ty trong khung khổ lý thuyết về việc  
lựa chọn địa điểm FDI [21]. Tận dụng cách tiếp  
cận cây ra quyết định (decision-tree approach),  
câu hỏi về địa điểm FDI cũng được mô hình  
hóa là sự tương tác giữa hiệu ứng quốc gia,  
ngành và công ty. Tổng quan của Nielsen và  
cộng sự (2017) chỉ ra rằng chỉ có ít hơn 10%  
các nghiên cứu tận dụng mô hình dữ liệu lồng  
nhau để tính đến việc lựa chọn theo thứ bậc [2].  
Một số nghiên cứu gần đây cũng sử dụng mô  
hình logit hỗn hợp, cho phép lựa chọn tương  
quan giữa các địa điểm đầu tư khác nhau (ví dụ  
xem [20]). Tuy nhiên, trong khi các nghiên cứu  
này dựa trên nguồn dữ liệu đa cấp độ, các tác  
giả vẫn chưa xem xét đến hiệu ứng lồng chéo  
(cross-nesting) của dữ liệu ở các cấp độ phân  
tích khác nhau. Điều này có thể làm tăng số  
Trong các mô hình sử dụng biến công cụ,  
mô hình kinh tế lượng không gian ngày càng  
được các học giả quan tâm sử dụng để phân tích  
sự phụ thuộc về không gian giữa các vùng khác  
nhau, trong đó đặc tính của các địa điểm xung  
quanh có thể ảnh hưởng tới dòng FDI vào một  
khu vực. Các địa phương chia sẻ với nhau hệ  
thống quốc lộ, cảng biển và lực lượng lao động,  
nhất là các tỉnh thành có vị trí địa lý gần nhau.  
Ngoài ra, các hoạt động kinh tế thường không  
bị giới hạn bởi ranh giới hành chính. Đây chính  
là “hiệu ứng không gian” (spatial effecs) giữa  
N.T.T. Mai / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 115-123  
120  
mẫu giả tạo, các lỗi xác suất và ảnh hưởng đến  
kết quả nghiên cứu [22].  
quan trọng quyết định nguồn vốn FDI vào Anh  
[23]. Taylor (1993) cũng khẳng định kết quả  
tương tự về vai trò của chính sách thu hút FDI ở  
các vùng được hỗ trợ của chính phủ Anh [24].  
Tuy nhiên, Coughlin và cộng sự (1991),  
Woodward (1992) trong nghiên cứu về FDI tại  
Mỹ đưa ra kết quả chưa thống nhất về hiệu quả  
của chính sách này và các cơ chế thúc đẩy đầu  
tư khác [25, 26]. Ngoài ra, Head và Ries  
(1996), Meyer và Nguyen (2005) cũng cho rằng  
việc chính phủ một số quốc gia châu Á thành  
lập các khu kinh tế đặc biệt cũng ảnh hưởng  
tích cực tới việc thu hút FDI vào địa phương đó  
[27, 28]. Lim (2001) đã xác định rằng hiệu ứng  
nền kinh tế tập trung là một trong những nhân  
tố quan trọng ảnh hưởng tới địa điểm phân bố  
FDI bên cạnh các yếu tố thông thường khác  
[29]. Bằng chứng thực nghiệm chứng tỏ vai trò  
của cụm công nghiệp đến việc lựa chọn địa  
điểm FDI là khá rõ ràng, ủng hộ quan điểm  
rằng hiệu ứng quần tụ doanh nghiệp là một  
trong những nhân tố kéo quan trọng đối với FDI  
đến với một khu vực cụ thể. Theo Nielsen và  
cộng sự (2017), phần lớn nghiên cứu ủng hộ  
quan điểm này [2], chỉ có vài nghiên cứu không  
tìm ra mối liên hệ và chỉ có nghiên cứu của Li  
và Park (2006) chỉ ra mối quan hệ ngược chiều.  
Hiện nay có rất ít nghiên cứu đưa ra các biến  
quan sát thể hiện hiệu ứng nền kinh tế tập trung,  
chính vì thế việc nghiên cứu mối quan hệ nhân  
quả còn rất hạn chế [30].  
Kết quả thực nghiệm từ những nghiên cứu  
áp dụng cách tiếp cận quy trình quốc tế hóa  
cũng không đồng nhất. Nghiên cứu tiên phong  
của Davidson (1980) chỉ ra rằng kinh nghiệm  
của doanh nghiệp ảnh hưởng tới việc lựa chọn  
địa điểm đầu tư theo hai cách [31]. Đầu tiên,  
doanh nghiệp sẽ quan tâm tới quốc gia mà họ  
có kinh nghiệm hoạt động tích cực hơn là quốc  
gia mà họ chưa có kinh nghiệm. Thứ hai, doanh  
nghiệp giàu kinh nghiệm quốc tế ít quan tâm tới  
các thị trường gần, tương tự và quen thuộc. Khi  
kinh nghiệm tăng lên, doanh nghiệp sẽ quan  
tâm tới các thị trường mà trước đây bị nhận  
thức là ít hấp dẫn do mức độ rủi ro cao. Điều  
quan trọng là Davidson (1980) đã phát hiện ra  
rằng khi doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm  
hơn, việc lựa chọn địa điểm hoạt động ở nước  
5. Các kết quả nghiên cứu chính  
Trong hai hướng tiếp cận để phân tích các  
nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm  
FDI ở trên, mỗi hướng nghiên cứu tập trung vào  
các nhóm nhân tố khác nhau và đưa ra những  
kết quả không đồng nhất.  
Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận kinh tế  
học thường áp dụng các mô hình biến công cụ  
để tìm ra ảnh hưởng của nhóm các yếu tố kinh  
tế, thể chế cũng như hiệu ứng quần tụ doanh  
nghiệp. Nguyên lý cơ bản đằng sau quyết định  
lựa chọn địa điểm đầu tư (cũng như những giả  
định đằng sau mô hình kinh tế lượng) đều liên  
quan đến vấn đề hiệu quả kinh tế. Các doanh  
nghiệp sẽ phân chia hoạt động của mình thành  
hai cấu phần doanh thu - lợi nhuận và xác định  
các nhân tố tác động trực tiếp tới hai cấu phần  
này. Theo đó, phần lớn các nghiên cứu về việc  
lựa chọn địa điểm phân tán FDI đều sử dụng  
các chỉ số như quy mô thị trường và mức độ  
giàu có của người dân (ảnh hưởng tới doanh  
thu), năng suất lao động và mức lương (ảnh  
hưởng tới chi phí sản xuất) và cơ sở hạ tầng  
(ảnh hưởng tới chi phí vận chuyển) [2]. Kết quả  
thực nghiệm cho thấy mặc dù phần lớn các  
nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng theo hướng kỳ  
vọng của mỗi biến số trên với lượng FDI vào  
một khu vực/địa điểm cụ thể, nhưng nhìn chung  
kết quả vẫn chưa đồng nhất. Đối với nhóm các  
yếu tố thể chế, có một sự đồng thuận rộng rãi  
rằng thể chế (ở cấp độ khu vực, quốc gia và  
vùng) ảnh hưởng lớn tới môi trường kinh doanh  
thông qua việc thuận lợi hóa hoặc cản trở hoạt  
động kinh tế của doanh nghiệp. Chính vì thế,  
bản chất và chất lượng của môi trường thể chế  
nước chủ nhà ảnh hưởng tới địa điểm phân bố  
FDI. Chính sách của chính phủ ở cả cấp quốc  
gia và cấp địa phương thường được xem là biến  
số quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa  
phương phân bố FDI. Ở cấp độ địa phương, có  
nhiều nghiên cứu khẳng định tác động tích cực  
và quan trọng của các chính sách của chính phủ  
trong việc thu hút FDI. Hill và Munday (1992)  
cho rằng các động lực tài chính là một yếu tố  
N.T.T. Mai / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 115-123  
121  
ngoài càng thể hiện cách phản ứng hiệu quả đối  
với cơ hội và điều kiện kinh tế toàn cầu.  
Pedersen và Petersen (2004) cho thấy “hiệu ứng  
sốc” (shock effect) của việc gia nhập thị trường  
nước ngoài phát triển theo thời gian (đạt mức  
độ thấp nhất khi đã quen thuộc thị trường sau 8  
năm gia nhập), đồng thời ủng hộ “nghịch lý  
khoảng cách tâm lý” (psychic distance  
paradox), trong đó các nước lân cận lại tạo ra  
mức độ sốc cao [32]. Nghiên cứu Delphi duy  
nhất (MacCarthy và Atthirawong, 2003) tìm ra  
các kết quả thông thường về động lực của  
doanh nghiệp trong việc lựa chọn địa điểm phân  
tán hoạt động sản xuất [33]. Những kết quả này  
gợi ý rằng vấn đề quá trình trong hoạt động  
quốc tế hóa là vấn đề quan trọng. Học tập, sự  
tiếp biến và đồng biến văn hóa được cho là có ý  
nghĩa trong các bối cảnh khác nhau, đối với các  
giám đốc khác nhau trong việc ra quyết định địa  
điểm FDI.  
khác biệt địa lý cấp quốc gia và thể chế, mà  
đánh giá quá thấp tính không đồng nhất giữa  
các địa phương trong cùng một quốc gia. Trong  
khi đó, các nghiên cứu của các nhà địa lý kinh  
tế và kinh tế học đô thị đã chỉ ra một số nhân tố  
liên quan đến sự khác biệt theo không gian giữa  
các địa phương, tuy nhiên lại không chú ý đến  
các đặc điểm của doanh nghiệp và sự phù hợp  
của động cơ đầu tư, nguồn lực hiện có và năng  
lực của doanh nghiệp với việc lựa chọn địa  
điểm đầu tư [36, 37]. Điều này cho thấy rằng  
cần có nghiên cứu liên ngành, đa lĩnh vực và  
tích hợp các chỉ số ở các cấp độ phân tích khác  
nhau cũng như xem xét cả hành vi của người ra  
quyết định.  
Thứ hai, về phạm vi nghiên cứu, nhận thức  
về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa  
điểm FDI của doanh nghiệp vẫn còn khoảng  
trống do vấn đề thiên lệch trong chọn mẫu. Các  
công trình hiện có tập trung chủ yếu vào các  
nước lớn như Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc và  
những kiến thức đã có rất khó áp dụng đối với  
các nước đang phát triển. Mỗi quốc gia và địa  
phương có những đặc điểm khác biệt về thể chế  
và điều kiện kinh tế vĩ mô, có thể ảnh hưởng  
đến việc lựa chọn quốc gia và địa phương để  
phân bố FDI. Chính vì thế, rất cần có các  
nghiên cứu tập trung vào những vùng, quốc gia  
và khu vực ít được quan tâm để mở rộng kiến  
thức và tăng tính hợp lệ của các nhân tố được  
giả định ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn địa  
điểm phân bố đầu tư của MNCs.  
Thứ ba, về nguồn số liệu sử dụng, cần lưu ý  
rằng hiện nay đa số các nghiên cứu đều sử dụng  
số liệu thứ cấp. Mặc dù số liệu thứ cấp thường  
giải thích tốt hơn (nhưng không phải luôn luôn)  
điều tra khảo sát do không bị thiên kiến xác nhận,  
việc dựa vào số liệu thứ cấp được thu thập cho các  
mục tiêu nghiên cứu khác thường dấy lên những  
lo ngại về tính hợp lệ của thang đo như nhóm tác  
giả Nielsen và cộng sự (2017) đã phân tích [2].  
Việc dựa quá nhiều vào số liệu chéo hoặc số liệu  
chuỗi thời gian được gộp thành những giá trị duy  
nhất thường dẫn đến việc mất mát thông tin và  
thất bại trong việc kiểm nghiệm mối quan hệ  
thực tế.  
6. Hạn chế của nghiên cứu trước và một số  
gợi mở  
Kết quả rà soát các nghiên cứu giải thích lý  
do lựa chọn địa điểm phân bố FDI của MNCs  
cho thấy nhận thức của chúng ta về lĩnh vực  
này vẫn còn chưa đầy đủ [2]. Do thiếu nguồn  
dữ liệu cũng như nhiều vấn đề về mặt phương  
pháp luận, kết quả nghiên cứu vẫn còn nhiều  
mâu thuẫn. Mặc dù số lượng các công trình  
phân tích các nhân tố tác động đến lựa chọn địa  
điểm đầu tư nước ngoài là rất lớn, tuy nhiên vẫn  
còn khoảng trống tri thức để tiếp tục nghiên  
cứu. Cụ thể là:  
Thứ nhất, khung phân tích và lý thuyết về  
các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa  
điểm phân bố FDI chưa đầy đủ. Sự tích hợp các  
dòng lý thuyết ở các lĩnh vực khác nhau khi  
xem xét vị trí phân bổ FDI vẫn còn rất ít mặc  
dù quan sát thực tế có thể thấy cả đặc điểm của  
khu vực địa lý cũng như đặc điểm của doanh  
nghiệp FDI và người ra quyết định đều có khả  
năng ảnh hưởng đến quyết định địa điểm đầu tư  
[34, 35]. Các nghiên cứu gần đây không cung  
cấp đầy đủ hiểu biết về cơ chế làm cho doanh  
nghiệp ưa chuộng một địa phương hơn so với  
địa phương khác, và chủ yếu tập trung vào sự  
Thứ tư, hầu như có rất ít nghiên cứu sử  
dụng thông tin và dữ liệu sơ cấp. Mặc dù việc  
N.T.T. Mai / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 115-123  
122  
này rất khó khăn và tốn thời gian nhưng trách  
nhiệm của nhà nghiên cứu là đảm bảo chất  
lượng dữ liệu thu thập được. Thêm nữa, thu  
thập dữ liệu về hành vi đầu tư ra nước ngoài  
của các doanh nghiệp sẽ làm các nghiên cứu  
học thuật gần hơn với mô hình ra quyết định  
trong thực tế. Điều này rất quan trọng bởi lẽ  
việc ra quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư là  
một quá trình theo bước và nhiều khi phi lý trí.  
Phần lớn các nghiên cứu chỉ đề cập đến một số  
lượng có hạn các lựa chọn trước khi ra quyết  
định, và thông thường không xem xét đến vấn  
đề ưu tiên cũng như là quá trình ra quyết định  
theo bước. Chỉ có một số ít nghiên cứu xem xét  
việc xếp hạng và thời gian gia nhập một thị  
trường cụ thể, thể hiện điều kiện quyết định thứ  
tự gia nhập. Hơn nữa, việc lựa chọn vị trí đầu tư  
có thể là một quá trình theo chuỗi, chẳng hạn  
như Arregle và cộng sự (2009), Arregle và cộng  
sự (2013) bắt đầu bằng việc chọn quốc gia  
(hoặc một khu vực), sau đó là lưạ chọn vùng,  
địa phương hoặc khu kinh tế. Việc thu thập dữ  
liệu thứ cấp không thể giúp nghiên cứu giải  
thích được quá trình này [38, 39].  
Như vậy, có thể thấy hiện nay rất nhiều  
trường phái lý thuyết cũng như phương pháp  
được sử dụng và phân tích ở các bối cảnh  
nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, do thiếu  
nguồn dữ liệu cũng như nhiều vấn đề về  
phương pháp luận, các kết quả nghiên cứu vẫn  
còn nhiều mâu thuẫn. Mặc dù số lượng các  
công trình phân tích các nhân tố tác động tới  
quyết định lựa chọn phân bố vốn đầu tư nước  
ngoài là khá lớn, tuy nhiên vẫn còn khoảng  
trống tri thức để tiếp tục nghiên cứu. Các  
nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung xem xét  
các trường phái lý thuyết khác nhau và đề xuất  
một khung khổ lý thuyết đầy đủ hơn về các  
nhân tố ở các cấp độ khác nhau; thực hiện  
nghiên cứu ở bối cảnh mới là các nền kinh tế  
mới nổi, các nước đang phát triển...; sử dụng  
một mô hình nghiên cứu phù hợp để xử lý dữ  
liệu đa cấp, phân cấp; đồng thời sử dụng mô  
hình phân tích tác động không gian để đánh giá  
sự phụ thuộc của các nhân tố ở cấp độ địa  
phương. Việc thu thập dữ liệu về hành vi đầu tư  
ra nước ngoài của các doanh nghiệp này sẽ làm  
các nghiên cứu học thuật gần hơn với mô hình  
ra quyết định trong thực tế. Điều này rất quan  
trọng bởi lẽ việc ra quyết định lựa chọn địa  
điểm đầu tư là một quá trình theo bước và nhiều  
khi phi lý trí [4].  
Tài liệu tham khảo  
[1] I. Faeth, “Determinants of foreign direct  
investment - A tale of nine theoretical models”,  
Journal of Economic Surveys 23 (2009) 165-196.  
[2] B.B. Nielsen, C.G. Asmussen, C.D. Weatherall,  
“The location choice of foreign direct  
investments:  
Empirical  
evidence  
và  
methodological challenges”, Journal of World  
Business 52 (2017) 62-82.  
[3] Nguyễn Văn Thắng, Giáo trình thực hành nghiên  
cứu trong kinh tế và quản trị kinh doanh, NXB.  
Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2014.  
[4] P.J. Buckley, T.M. Devinney, T.M. Louviere, “Do  
managers behave the way theory suggests? A choice-  
theoretic examination of foreign direct investment  
location decision-making”, Journal of International  
Business Studies 38 (7) (2007) 1069-1094.  
[5] S.H. Hymer, International operations of national  
firms, Cambridge, MA: MIT Press, 1960.  
[6] J.  
Johanson,  
J.E.  
Vahlne,  
“The  
Internationalization Process of the Firm-A Model  
of Knowledge Development and Increasing  
Foreign Market Commitments”, Journal of  
International Business Studies 8(1) (1977) 23-32.  
[7] E. Hörnell, J. Vahlne, F. Wiedersheim-Paul,  
Exports and foreign establishments, Stockholm:  
Almqvist & Wicksell, 1973.  
[8] J.E. Vahlne, F. Wiedersheim-Paul, “Economic  
distance: Model and empirical investigation”, Export  
and Foreign Establishments, 1973, pp. 81-159.  
[9] J.E.  
Vahlne,  
K.A.  
Nordström,  
Impact  
“The  
internationalization  
process:  
of  
competition and experience”, The International  
Trade Journal 7 (5) (1993) 529-548.  
[10] Y. Kang, F. Jiang, “FDI location choice of  
Chinese multinationals in East and Southeast  
Asia: Traditional economic factors and  
institutional perspective”, Journal of World  
Business 47 (1) (2012) 45-53.  
[11] B. Ramasamy, M. Yeung, S. Laforet, “China’s  
outward foreign direct investment: Location  
choice and firm ownership”, Journal of World  
Business 47 (1) (2012) 17-25.  
[12] Y. Kandogan, “Regional foreign direct investment  
potential of the states within the US”, Journal of  
Economics and Business 64 (4) (2012) 306-322.  
[13] C.L. Rogers, C. Wu, “Employment by foreign  
firms in the US: Do state incentives matter?”,  
N.T.T. Mai / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 115-123  
123  
Regional Science and Urban Economics 42 (4)  
(2012) 664-680.  
of China’s Incentive Areas”, Journal of Urban  
Economics 40 (1) (1996) 38-60.  
[14] G.G. Dess, S. Newport, A.M.A. Rasheed,  
[28] K.E. Meyer, H.V. Nguyen, “Foreign Investment  
Strategies and Sub-national Institutions in Emerging  
Markets: Evidence from Vietnam”, Journal of  
Management Studies 42 (1) (2005) 63-93.  
[29] E.G. Lim, “Determinants of, and the Relation  
Between, Foreign Direct Investment and Growth;  
“Configuration  
Research  
in  
Strategic  
Management: Key Issues and Suggestions”,  
Journal of Management 19 (4) (1993) 775-795.  
[15] D.A. Kenny, Correlation and causality, New  
York: Wiley, 1979.  
[16] G.J. Bobonis, H.J. Shatz, “Agglomeration, adjustment,  
and state policies in the location of foreign direct  
investment in the United States”, The Review of  
Economics and Statistics 89 (1) (2007) 30-43.  
A
Summary of the Recent Literature:  
International Monetary Fund”, Available at:  
01/175/, 2001.  
[17] H.H. Hoang, M. Goujon, “Determinants of  
foreign direct investment in Vietnamese  
provinces: A spatial econometric analysis”, Post-  
Communist Economies 26 (1) (2014) 103-121.  
[18] B. Esiyok, M. Ugur, “A spatial regression  
approach to FDI in Vietnam: Province-level  
evidence”, The Singapore Economic Review, 62  
(02) (2017) 459-481.  
[30] S. Li, S.H. Park, “Determinants of Locations of  
Foreign  
Direct  
Investment  
in  
China”,  
Management and Organization Review 2 (1)  
(2006) 95-119.  
[31] W.H. Davidson, “The location of foreign direct  
investment activity: Country characteristics and  
experience effects”, Journal of International  
Business Studies 11 (2) (1980) 9-22.  
[19] B.B. Nielsen, S. Nielsen, “A multilevel approach  
to understanding the multinationality-performance  
relationship”, The Past, Present and Future of  
International Business & Management: Emerald  
Group Publishing Limited, 2010, pp. 527-557.  
[20] R. Basile, D. Castellani, A. Zanfei, “Location  
choices of multinational firms in Europe: The role  
of EU cohesion policy”, Journal of International  
Economics 74 (2) (2008) 328-340.  
[32] B. Petersen, T. Pedersen, “Coping with liability of  
foreignness: Different learning engagements of  
entrant firms”, Journal of International  
Management 8 (3) (2002) 339-350.  
[33] B. Ambos, “Foreign direct investment in industrial  
research and development: A study of German  
MNCs”, Research Policy 34 (4) (2005) 395-410.  
[34] J.I. Galan, J. Gonzalez-Benito, J.A. Zuñiga-Vincente,  
“Factors determining the location decisions of Spanish  
MNEs: An analysis based on the investment  
development path”, Journal of International Business  
Studies 38 (6) (2007) 975-997.  
[21] S. Rasciute, E. Pentecost, B. Ferrett, “Firm  
heterogeneity in modelling foreign direct  
investment  
location  
decisions”,  
Applied  
Economics 46 (12) (2014) 1350-1360.  
[35] L. Nachum, S. Zaheer, S. Gross, “Does it matter  
where countries are? Proximity to knowledge, markets  
and resources, and MNE location choices”,  
Management Science 54 (7) (2008) 1252-1265.  
[36] J.R. Markusen, A.J. Venables, D.E. Konan, K.H.  
Zhang, A unified treatment of horizontal direct  
investment, vertical direct investment, and the  
pattern of trade in goods and services, National  
Bureau of Economic Research, 1996.  
[22] J.L. Arregle, L. Hébert, P.W. Beamish, “Mode of  
international entry: The advantages of multilevel  
methods”, Management International Review 46  
(5) (2006) 597-618.  
[23] S. Hill, M. Munday, “The UK Regional  
Distribution of Foreign Direct Investment:  
Analysis and Determinants”, Regional Studies, 26  
(6) (1992) 535-544.  
[24] J. Taylor, “An analysis of the factors determining  
the geographical distribution of Japanese  
manufacturing investment in the UK, 1984-91”,  
Urban Studies 30 (7) (1993) 1209-1224.  
[37] E. McCann, “Urban Policy Mobilities and Global  
Circuits of Knowledge: Toward a Research  
Agenda”, Annals of the Association of American  
Geographers 101 (1) (2011) 107-130.  
[25] C.C. Coughlin, E. Segev, “Foreign Direct  
Investment in China: A Spatial Econometric  
Study”, The World Economy 23 (1) (2000) 1-23.  
[26] D.P. Woodward, “Locational determinants of  
Japanese manufacturing start-ups in the United  
[38] J.L. Arregle, P.W. Beamish, L. Hébert, “The  
Regional Dimension of MNEs' Foreign Subsidiary  
Localization”, Journal of International Business  
Studies 40 (1) (2009) 86-107.  
[39] J.L. Arregle, T.L. Miller, M.A. Hitt, P.W.  
Beamish, “Do regions matter? An integrated  
institutional and semiglobalization perspective on  
the internationalization of MNEs”, Strategic  
Management Journal 34 (8) (2013) 910-934.  
States”, Southern Economic Journal  
2 (1992)  
690-708.  
[27] K. Head, J. Ries, “Inter-City Competition for  
Foreign Investment: Static and Dynamic Effects  
P
p
pdf 9 trang yennguyen 14460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Factors influencing MNCs’ location decision", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdffactors_influencing_mncs_location_decision.pdf